Hồi ký về Bộ môn Vật liệu xây dựng

GS. TSKH Nguyễn Thúc Tuyên chắp bút

 

Mở đầu: Tôi là một giáo viên vật liệu xây dựng (VLXD) đầu tiên của Bộ môn Vật liệu Xây dựng – Trường Đại học Thủy lợi, tôi biết được sự hình thành môn học VLXD từ thuở ban đầu. Tôi có ba khoảng thời gian gián đoạn (ở nước ngoài), nhưng cũng tham khảo tài liệu của một số thành viên liên quan, nên cũng nắm được tình hình của tổ cho đến ngày về hưu (1997).

Tôi phân hồi ký này thành hai giai đoạn:

(1) Giai đoạn Bộ môn VLXD nằm trong tổ môn Thi công – Vật liệu;

(2) Giai đoạn tổ môn VLXD tách riêng.

Học viện Thủy lợi – Điện lực được thành lập năm 1959 do Trung Quốc giúp đỡ theo mô hình các học viện của Trung Quốc. Khi đặt vấn đề đội ngũ giáo viên, thì chuyên gia Trung Quốc gợi ý lấy sinh viên tốt nghiệp đại học Bách Khoa (ĐHBK) ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp khóa I về dạy 4 môn: Vật liệu xây dựng, sức bền vật liệu, kết cấu và kết cấu công trình. Do yêu cầu của sản xuất, sinh viên trường Đại học Bách Khoa phải ra trường sớm để công tác và đi học chuyển tiếp 2 năm cuối (chương trình đào tạo 5 năm) ở nước ngoài. Sinh viên Thủy Lợi sang Trung Quốc, còn sinh viên các khoa khác sang Liên Xô. Tất nhiên đại bộ phận thì ra phục vụ sản xuất ngay. Riêng ngành xây dựng học cả nghỉ hè cho đến ngày 08/12/1959. Như vậy là học 3,5 năm. Chỉ còn thiếu 3 môn về sau tôi về trường học bổ túc, coi như học đủ chương trình, chỉ có việc không phải làm đồ án tốt nghiệp. Do là khóa đầu tiên nên giáo viên rất thiếu. Riêng môn Vật liệu xây dựng không có giáo viên. Nhà trường phải mời giáo viên thỉnh giảng là kỹ sư Phạm Đình Biều, Bác Biều là kỹ sư công trình, trước đó làm trưởng ty công trình ở Hà Nội thời pháp tạm chiếm. Sau hiệp định Paris bác ở lại Hà Nội với gia đình ở gần Ô Chợ Dừa. Bác là cán bộ “lưu dung”. Vì có chuyên môn cao nên được đề bạt làm Viện phó viện thiết kế dân dụng thuộc bộ Kiến Trúc ở Hà Nội. Bác không có chuyên môn sâu về VLXD, và cũng chẳng có thời gian chuẩn bị giáo án, nên mỗi khi lên lớp bác mang theo quyển sổ tay xây dựng bằng tiếng Pháp trong đó có những phần liên quan đến xây dựng như phần xây trát, phần bê tông, phần kết cấu gạch đá, gỗ, kết cấu thép… Ở mỗi phần đều có mục đầu tiên là vật liệu sử dụng. Bác ngồi trên ghế cạnh bàn, giở sách ra dịch phần VLXD và yêu cầu sinh viên ghi chép. Tất nhiên nội dung phần VLXD cũng sơ sài thôi. Thầy Biều dạy khoảng vài tháng và mỗi tuần chỉ lên lớp 1 buổi, nên kiến thức truyền đạt chẳng được là bao. Sau đó có thầy Lê Đỗ Chương tốt nghiệp kỹ sư ngành thủy lợi ở học viện Thủy Lợi và điện Lực Vũ Hán về thay thầy Biều và khi đó có một chuyên gia Liên Xô (PGS.PTS A.I. Denhixov) là giáo viên VLXD của trường đại học xây dựng Matxcơva sang giúp đỡ và xây dựng phòng thí nghiệm VLXD ở trường đại học Bách Khoa, có một cán bộ trung cấp phụ trách (anh Đốc). Thầy Chương còn ít giờ nên giảng chủ yếu giảng phần bê tông và vữa, thầy Denhixov có lên lớp phần thí nghiệm xi măng. Trong phòng thí nghiệm có một số khay đựng nhiều loại đá dùng làm cốt liệu cho bê tông. Tôi ghi chép được đầy đủ và học thuộc lòng đặc biệt nhiều lần qua phòng thí nghiệm đều xem lại và ghi chép đặc điểm các loại đá. Tôi đã quen cách học ở trường phổ thông thời Hà Nội tạm chiếm là tự học tự nghiên cứu. Thầy Chương cho thi vấn đáp 2 câu lý thuyết và một câu nhận thức về một mẫu đá do thầy chỉ định. Tôi đã trả lời rất trôi chảy và được điểm 5, điểm tuyệt đối (rất hiếm người được điểm này vì không trả lời tốt câu hỏi về mẫu đá). Chính vì điểm 5 môn thi VLXD ở trường ĐHBK đã khiến tôi trở thành giáo viên VLXD đầu tiên của trường ĐH Thủy Lợi. Ngày 08/09/1959 4 người chúng tôi ra trường về công tác ở Học viện Thủy Lợi (HVTL), khi đó ở địa điểm của trường trung cấp Thủy Lợi ở Hà Đông. Cơ cấu của HVTL bao gồm trường đại học Thủy Lợi, viện nghiên cứu Thủy Lợi, trường trung cấp Thủy Lợi và trường trung cấp Điện. Hôm sau 4 anh em họp lại để phân công ai dạy môn gì. Các môn sức bền vật liệu, kết cấu và kết cấu công trình có phần tính toán và được học bài bản hơn ở ĐHBK nên ai cũng muốn dạy, còn môn VLXD học lôm côm nên đều không muốn nhận. Tất cả đều đề nghị tôi dạy môn này vì 3 lí do: tôi giỏi ngoại ngữ hơn, được học bài bản hơn và đặc biệt là được điểm thi vật liệu xây dựng cao nhất. Tôi nghĩ môn VLXD cũng được, họ không muốn nhận thì mình nhận cũng không sao. Thế là từ đó tôi trở thành giáo viên dạy môn VLXD đầu tiên của trường Đại học Thủy Lợi. Thời gian đó tôi là thành viên của tổ thi công vật liệu của trường trung cấp Thủy Lợi, cùng với anh Vũ Trường Sinh và Lê Hữu Ly học khoa cơ khí trường đại học Bách Khoa được phân công dạy môn Máy xây dựng cho Đại học thủy lợi. Tôi chỉ sinh hoạt ở tổ môn này, chứ không phải dạy trung cấp ngày nào. Còn anh Sinh và Ly có dạy phần chi tiết máy. Bác Nguyễn Nghệ học cao đẳng công trình thời Pháp làm tổ trưởng, tổ phó là anh Nguyễn Tế Đồng, học sinh trung cấp khóa 7 (ra trường 1957) làm tổ phó. Năm học 1959 Học viện Thuỷ Lợi tuyển sinh 2 lớp: lớp chính quy (học sinh phổ thông) phải gửi học ở Đại học Bách Khoa vì không có thầy dạy, còn lớp chuyên tu khóa 1 (gồm các học viên là trưởng phó ty thủy lợi ở các tỉnh, chỉ huy các công trường thủy lợi… là cán bộ trung cấp từ thời Pháp hoặc được đào tạo trong thời gian kháng chiến về học để được nâng cấp lên bậc kỹ sư). Theo chương trình do chuyên gia Trung Quốc xây dựng theo mô hình của Trung Quốc, thì có môn VLXD học ở học kỳ II. Như vậy chỉ 1-2 tháng bước chân về HVTLĐL tôi phải chuẩn bị dạy lớp này. Ban giám đốc HVTLĐL lúc đầu mời thầy Chương ở ĐHBK về dạy, còn tôi sẽ là giáo viên phụ đạo và thí nghiệm. Lần đầu tiên thày Chương đến dạy đi xe đạp từ ĐHBK vào Hà Đông, trời nắng cũng vất vả và sức khỏe không tốt, thầy đề nghị cho xe đưa đón. Bác Thới phó giám đốc, bí thư đảng ủy là lãnh đạo chính ở HVTLĐL (nghe nói giám đốc là thứ trưởng nhưng rất ít khi đến HVTLĐL) từ chối vì trường chỉ có 1 xe con chỉ giành cho bán giám đốc. Thầy Chương không dạy nữa và tôi sẽ phải thay thế thầy giảng dạy lớp này. Tất nhiên là sẽ gặp rất nhiều khó khăn: học môn VLXD lôm côm, không có tài liệu giáo trình, lại bị động, không có thời gian chuẩn bị. Một tuần phải lên lớp 2 buổi vì thời gian đào tạo rất gấp, chỉ còn một năm rưỡi là sinh viên ra trường rồi. Phải giảng dạy ở 2 nơi, phần lý thuyết lên lớp ở Hà Đông, còn phần thí nghiệm phải về ĐHBK ở phố Bạch Mai. Phải dạy 60 tiết, trong đó 45 tiết lý thuyết, 15 tiết thí nghiệm. Tôi phải đi khắp các thư viện thu thập tài liệu. Thư viện trường trung cấp TL chỉ có 1 số giáo trình in của trung cấp, không có một quyển sách nào. Lên thư viện bộ Thủy Lợi kiếm được một quyển sách nhỏ về thi công bê tông (dịch của Ấn Độ), 1 quyển quy phạm thi công bê tông của bộ, xuống nhà máy xi măng Hải Phòng xin được một quyển sách nhỏ bằng bàn tay giới thiệu xi măng Hải Phòng. Tôi đã đi tham quan hầu hết các công trường xây dựng ở Hà Nội và một vài công trình thủy lợi ở các địa phương gần hà Nội để hiểu được tình hình thực tế xây dựng ở nước ta, các nhà máy sản xuất gạch, lò vôi để để có thêm kiến thức thực tế phục vụ giảng dạy cho một lớp mà các học viên đều lớn tuổi đã có nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong công tác xây dựng thủy lợi. Có một số bác đã ngoài 50, đa số từ 35- 45, chỉ có 2 người xấp xỉ tuổi tôi và cũng là trưởng phó phòng. Còn mình thì mới ra trường, chưa có kinh nghiệm thực tế về chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy (giảng dạy lần đầu tiên) và không có tài liệu giáo trình (kể cả tài liệu Việt Nam và nước ngoài).

Tôi chỉ tập trung giảng dạy phần tính chất chung, gạch đá, vôi, xi măng, bê tông và vữa. Chuyện thí nghiệm cũng rất vất vả. Lúc đó ở trường ĐHBK đã có một phòng thí nghiệm với thiết bị đều của Liên Xô. Tôi thường xuyên sang phòng thí nghiệm để tập làm các thí nghiệm liên quan đến phần lý thuyết (tính chất chung, chất kết dinh vôi và xi măng, bê tông và vữa) viết bài giảng và bố trí 4 buổi chiều đưa sinh viên chuyên tu sang làm thí nghiệm. Hồi đó việc đi lại rất phức tạp. Nếu đi tàu điện thì phải đi từ Hà đông lên bờ hồ Hoàn Kiếm rồi chuyển sang tàu khác để đi về phố Bạch Mai. Có thể đi tàu đến Ngã Tư Sở, rồi đi bộ đến phố Bạch Mai. Tôi có xe đạp, nên đi lại thường xuyên cũng tiện, còn sinh viên hầu hết đều phải đi tàu điện và đi bộ giữa mùa hè cũng rất vất vả. Tôi chỉ nhờ anh Đốc chuẩn bị giúp vật liệu dụng cụ, còn mình trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn thí nghiệm. Lớp học ở trường vào buổi sáng, nên bố trí thí nghiệm vào buổi chiều. Thời gian đi lại và thí nghiệm cũng hết cả buổi chiều. Môn VLXD kéo dài khoảng 3 tháng. Dạy xong lớp này tôi thở phào nhẹ nhõm, vì đã làm xong một việc khó khăn và qua đó cũng rút được nhiều kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, hôm nào có giờ giảng vào ban ngày thì tôi phải xuống nhà ở của sinh viên để phụ đạo (đó là quy định). Nếu họ hỏi gì thì phải giải đáp, giải thích để họ hiểu và qua đó cùng trao đổi về thực tế công tác của họ ở các công trường xây dựng thủy lợi mà họ đã thực hiện. Dạy xong lớp này tôi được điều động về ban kiến thiết HVTLĐL bố trí ở ngay công trường với nhiệm vụ chính là thiết kế các công trình phụ (các xưởng cơ khí, xưởng mộc và nhà trẻ…) cùng với anh Bá (dạy môn kết cấu). Sau khi thiết kế các bản vẽ chi tiết, tôi mang lên cục thiết kế dân dụng để thầy Phạm Đình Biều ký duyệt. Thầy trò lại có cơ hội gặp nhau. Thầy tin tưởng chúng tôi và ký duyệt ngay để tôi được đi in ở xưởng in của bộ Kiến trúc rồi mang về chuyển giao cho bên thi công và trực tiếp giám sát trong quá trình thi công đã thiết kế.

Thời gian giảng dạy ở Hà Đông tôi ở tập thể ở trường trung cấp. Khi tham gia ban thiết kế tôi ở nhà tập thể của ban ở gần chỗ để xe máy bây giờ. Đó là một ngôi nhà gạch ở sát nghĩa trang đạo công giáo thuộc khu Thái Hà. Không biết đấy là loại nhà nào? Có lẽ đây là chỗ chứa áo quan người chết để ở đây để làm lễ. Ngoài nhà ban kiến thiết, còn có nhà của ban chỉ huy công trường, cán bộ kỹ thuật và các lán công nhân phía bên trong. Phó ban kiến thiết thường trực là bác Nguyễn Đồng Hợi, bố đẻ của bà Nguyễn Thị Bình, học cao đẳng công chính thời Pháp dạy môn trắc đạc cho trường trung cấp Thủy Lợi và cũng là giáo viên thỉnh giảng hướng dẫn thực tập trắc đạc (trắc địa) cho chúng tôi ở trường đại học Bách Khoa. Thầy trò lại được công tác cùng nhau. Quan hệ cũng gần gũi và thoải mái. Một số cán bộ trong ban đều là cán bộ trung cấp thủy lợi khóa 7, không có một kỹ sư nào ngay cả ở ban chỉ huy công trường, thế mà công việc vẫn trôi chảy.

Khi ở Bộ môn thi công vật liệu trung cấp Thủy Lợi, bác Nghệ cũng cùng lứa với bác Hợi đối xử với chúng tôi cũng thân tình, coi chúng tôi là giáo viên đại học ghép tạm vào tổ môn này, nên không can thiệp vào công việc của chúng tôi. Chỉ có một lần, tổ phó Đồng đi công trường, bác có nhờ tôi chuẩn bị giảng bài về sở toán cho một lớp trung cấp thay anh Đồng. Tôi đã chuẩn bị giáo án, nhưng trước ngày giảng, anh Đồng về kịp nên tôi không phải giảng thay. Các bộ môn trung cấp đều thuộc phòng giáo vụ, bác Mã Chương làm trưởng phòng, anh Ngô Nén cán bộ trung cấp làm trợ lý, nên bọn tôi chỉ quan hệ với phòng giáo vụ trong giảng dạy. Khi đó ngoài công tác giảng dạy tôi có tham gia ban chấp hành công đoàn phòng giáo vụ và công đoàn trường, là ủy viên thường trực ban thi đua, nên hàng tháng phải tập hợp thành tích thi đua của các bộ phận trong trường, viết báo cáo để ban giám đốc đọc sơ kết thi đua hàng tháng. Ngoài ra còn là 1 trong 4 ủy viên thường trực hội đồng khoa học của trường, theo dõi công tác thư viện và thiết bị toàn bộ do Trung Quốc viện trợ cho học viện để tổng hợp và nghiệm thu với phía Trung Quốc sau này. Các thiết bị do viện tiếp nhận và các phòng thí nghiệm chung của học viện được xây dựng ở phía viện đặt ở phía Hà Nội của học viện, còn khu lớp học và tập thể cán bộ giáo viên sinh viên được xây dựng ở phía Hà Đông. Về vật liệu tôi là giáo viên bên trường, còn bên viện có mấy cán bộ chủ chốt học khóa I ngành thủy lợi bách khoa là cán bộ nghiên cứu. Lúc đầu viện thành lập một phòng thí nghiệm tổng hợp gồm thí nghiệm đất đá, kết cấu và vật liệu xây dựng. Lúc đầu bác Huân (cao đẳng công chính thời Pháp) làm trưởng phòng chung, sau tách phòng ra, còn lại phòng kết cấu + vật liệu xây dựng do bác Hãn (Đại úy quân đội) làm trưởng phòng, sau đó bác Hãn chuyển đi thì anh Vũ Tất Uyên (ĐHBK khóa I) làm trưởng phòng, anh Nguyễn Trọng Thao (ĐHBK khóa I) làm phó phòng, còn 2 cán bộ nghiên cứ nữa là anh Dương Đức Tín (ĐHBK khóa I) và anh Lê Văn Cung (học ở Trung Quốc). Sau đó anh Uyên đi NCS về chuyển sang làm trưởng phòng thủy công. Anh Thao làm trưởng phòng. Sau anh Thao đi NCS và phòng kết cấu tách khỏi phòng VLXD, thì anh Tín là trưởng phòng. Các phòng này đều do viện nghiên cứu thủy lợi quản lý. Bên trường chỉ ăn theo. Phòng vật liệu xây dựng cho đại học được bố trí ở tầng 1 của ngôi nhà 2 tầng ở ngay đầu ngõ 95. Ở 2 đầu nhà là 2 phòng to. Phòng to sát đường dành cho trường, còn phòng to ở đầu kia đặt một dàn máy ép và máy kéo. Ở phòng dành cho trường có một cái tủ đựng các dụng cụ thủy tinh được kê một số bàn học, đặt máy trộn bê tông, một cân bàn vật liệu và một bàn rung mặt vuông khá lớn mỗi chiều khoảng 1m. Tôi đưa sinh viên khóa II của trường sang làm thí nghiệm ở đó. Nói chung thiết bị nhỏ cũng thiếu và rất ít, không được như phòng thí nghiệm của Đại học Bách Khoa. Riêng phần thí nghiệm xi măng (theo phương pháp khô thì có 2 bộ đầy đủ đặt ở 2 phòng nhỏ. Có cả một số thiết bị thí nghiệm bitum (bộ cắm kim, độ dãn dài, nhiệt độ chảy). Tôi phải chuẩn bị và hướng dẫn sinh viên (SV) thí nghiệm một mình. Đến khi mẫu thí nghiệm thì viện cử người điều hành máy làm cho SV xem, tôi không được trực tiếp sử dụng máy, coi như là đi làm nhờ viện.

Thời gian trước đó Trung Quốc cử 1 đoàn chuyên gia sang giúp học viện, trong đó có ông Đỗ Như Lầu làm giảng viên dạy VLXD ở trường Đồng Tế Thượng Hải. Ông Lầu có nhiệm vụ chính là giúp học viên lắp đặt đặt phòng thí nghiệm, vận hành các máy móc ở phòng này. Ngoài ra có mở một lớp bồi dưỡng cho cán bộ của học viện. Lớp học chỉ có 5-7 người trong đó có tôi. Anh Lê Xuân An làm phiên dịch. Ông Lầu soạn bài trước, anh An dịch ra tiếng việt rồi in phát cho từng học viên. Tập bài giảng này khoảng 150 trang chủ yếu về xi măng và bê tông. Lớp học kéo dài 1,5 năm, mỗi tuần giảng 1 buổi. Như vậy là tôi có được tập tài liệu tham khảo để chuẩn bị giảng dạy.

Ông Lầu có thể hướng dẫn cả thí nghiệm cho cán bộ của viện, tôi không được báo tham gia. Ngoài ra còn có một chuyên gia thi công là ông Giải Khải Canh là giảng viên ở Đại học thủy lợi điện lực Vũ Hán mở lớp bồi dưỡng cho giáo viên bộ môn thi công vật liệu trung cấp. Tôi cũng tham gia, lớp này kéo dài 1,5 năm. Các kiến thức về thi công cũng bổ trợ cho kiến thức về VLXD. Ông Giải cho cả lớp đi tham quan xây dựng khu đô thị Việt Trì do Trung Quốc giúp đỡ vào ngày cuối năm. Đến khi về tàu tết quá đông, tôi phải xuống ngồi ở toa chở đầy gà vịt.

Sang năm 1962 ở Học viện thủy lợi điện lực có chuyện thay đổi lớn. Trong Học viện có trường đại học thủy lợi, trường trung cấp thủy lợi, trường trung cấp điện và viện nghiên cứu TL. Nay có chủ trương của bộ là tách riêng 4 cơ sở này. Trường trung cấp thủy lợi lại về cơ sở cũ ở Hà Đông. Trường trung cấp điện lại về Thanh Xuân, còn viện nghiên cứu chiếm phần đất nhỏ hơn ở phía Hà Nội cho đến sân bóng, còn trường đại học thủy lợi ở phần lớn hơn phía Hà Đông (từ sân bóng đến hàng rào sát làng Khương Thượng)

Trường đại học TL thành lập các bộ môn

Như vậy là về tổ chức biên chế chúng ta có tổ môn thi công vật liệu gồm tôi, anh Dinh (cán bộ thí nghiệm VLXD) và 2 anh Sinh và Ly (Cơ khí) sẽ dạy máy xây dựng. Sau đó anh Hữu và anh Huấn về dạy thi công. Tôi phân biệt tổ môn và bộ môn. Hai từ đó có khái niệm khác nhau. Như tôi suy nghĩ bộ môn là một tập thể dạy một môn học, còn tổ môn là tập thể có thể dạy một môn hoặc nhiều môn, có nghĩa là có thể gồm nhiều bộ môn tập hợp trong một tổ môn. Như vậy lúc tách ra khỏi tổ môn trung cấp thì chúng ta có một tổ môn thi công vật liệu gồm 2 bộ môn trong đó là thi công và vật liệu giống như tổ môn thi công và vật liệu sau này. Tổ môn thi công vật liệu tồn tại lâu dài. Lúc đầu thì tôi là trưởng bộ môn, sau đó là anh Lê Quí Hữu (Học ở Trung Quốc), khoảng năm 1965 anh Hữu được chuyển về tổ chức bộ Thủy Lợi, anh Hoàng Côn Cẩn (học khóa I thủy lợi đại học Bách Khoa sau được sang Trung Quốc học thêm 2 năm) khoảng năm 1968 trường thành lập khoa Thủy Công, thủy điện. Anh Khoan được đề bạt phó chủ nhiệm khoa, thì anh Lê Đăng Nhàn học ở Liên Xô lên thay cho đến khi tách bộ môn VLXD thành một tổ môn riêng vào năm 1969 do anh Minh làm tổ trưởng. Thời anh Minh đi phục vụ sản xuất ở đoàn ĐH2 ở Ninh Thuận do anh Bướm là giám đốc thì anh Hỷ làm tổ trưởng. Sau anh Hỷ là anh Oanh và giờ đây là tổ trưởng Vũ Quốc Vương. Cô Lan liên tục làm tổ phó cho đến khi về hưu năm 1994. Giờ đây các tổ trưởng Hữu, Cẩn, Tĩnh, Nhân, Oanh, Hỷ, Minh đã đi xa. Khi chia trường, trường trung cấp chỉ được chia một số sách ở thư viện, không có thiết bị thí nghiệm vì trước đây ở Hà Đông trường trung cấp không có thí nghiệm, hoàn toàn dạy lý thuyết chay. Về phòng thí nghiệm trường ĐHTL sẽ được nhận một ít thiết bị thí nghiệm để thành lập phòng thí nghiệm riêng. Lúc đó Nguyễn Trọng Thao là phó phòng thí nghiệm rất khó tính và trịch thượng. Thao nói rằng viện phải có thiết bị toàn bộ để nghiên cứu và phục vụ sản xuất, còn trường không làm chuyện này chỉ giảng trên lớp để sinh viên hiểu là được, nên chỉ cho trường một số thiết bị mà viện không cần. Tôi trao đổi với Thao trường cũng cần có thiết bị và phòng thí nghiệm giống như trường đại học Bách Khoa, nhưng mình ở thế yếu cũng không đòi hỏi được vì trên danh nghĩa viện đang quản lý phòng thí nghiệm chung và coi là chủ, mình chỉ là người ăn theo. Cuối cùng viện chỉ chia cho trường một số thiết bị dụng cụ như:

  • Một số ống nghiệm bằng thủy tinh, trong đó có 1 bình cao cổ Lechatelier để xác định khối lượng riêng của vật liệu hạt nhỏ;
  • 2-3 chảo trộn vữa cùng mấy cái bay;
  • 1 phễu nhỏ đo độ sụt của hỗn hợp bê tông với thanh sắt đầm chọc;
  • 1 bộ thiết bị thí nghiệm cường độ nén và kéo mẫu xi măng (ở viện có 2 bộ nên họ cho 1 bộ), vài bộ khuôn mẫu 4x4x16cm và mẫu số 8 và một máy cắm kim vica;
  • Vài cái sàng cát (không đủ bộ) không có sàng đá;
  • Các máy thí nghiệm bitum (máy cắm kim, máy đo độ dãn dài, dụng cụ đo nhiệt độ hóa mềm) và viện thấy không cần dùng.

Tất cả chỉ có thế, tôi đưa về đặt ở một phòng của trường (chính là phòng thí nghiệm của bộ môn bây giờ).

Viện có mấy máy ép bê tông và vữa với lực nén từ thấp lên cao. Tôi đề nghị họ cho trường 1 cái nhưng họ dứt khoát từ chối.

Với số thiết bị dụng cụ nghèo nàn như vậy, làm sao chúng ta có thể dướng dẫn cả một lớp sinh viên 50 người làm thí nghiệm được. Tôi đã cố gắng bổ sung thiết bị: chúng tôi thường xuyên ra 2 cửa hàng dụng cụ thiết bị hóa và cửa hàng thiết bị cơ khí để xem có thể mua được thiết bị dụng cụ gì phù hợp không. Chúng tôi mua được các ống lường thủy tinh to nhỏ, có lần mua được 1 bình Lechtelier. Mua được mấy cái cân và xin được 1 cân tiểu ly của phòng thí nghiệm hóa. Mua bay, chảo, xẻng để trộn vữa, bê tông.

Đặt ở xưởng mộc và xưởng cơ khí của trường làm 1 số khay to bằng tôn để trộn bê tông, làm khuôn đo đột sụt, làm bộ sàng đá khung gỗ đáy tôn khoét lỗ tròn, chế tạo một số khuôn vữa và bê tông.

Ngành thủy lợi cũng có một phòng thí nghiệm bê tông thuộc tổng đội công trình do các anh Âu và Được phụ trách đặt ở phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là phòng thí nghiệm của công trường Bắc Hưng Hải do TQ viện trợ. Tôi quan hệ thân thiết với họ. Họ chủ yếu thí nghiệm cho các công trường và sản xuất phụ gia hóa dẻo từ rơm nấu với sút. Tôi hay đến phòng thí nghiệm và giúp đỡ họ hiểu thêm về kiến thức bê tông và nghiên cứu vữa chống thấm trên máy thấm bê tông của phòng thí nghiệm đó. Về sau bộ có chủ trương nhập phòng thí nghiệm đó vào viện nghiên cứu thủy lợi, trong đó có 2 cái máy nén bê tông ép tay của Trung Quốc với lực ép 200 tấn và 50 tấn. Nhân cơ hội này tôi đề nghị viện cho trường 2 máy ép tay vì họ đã có một dàn máy chạy điện rồi. Họ đồng ý vì để lại cũng không dùng đến và bên trường lại hay đưa sinh viên và mẫu sang nhờ họ ép cho sinh viên xem cũng phiền cho họ. Chúng tôi đưa máy về thì chỉ máy ép 300 tấn hoạt động được, còn máy ép 50 tấn mất lò xo nên nhờ xưởng sửa mà không được vì lò xo này là loại chuẩn, không kiếm được loại thay thế. Máy ép có tay cần nâng lên hạ xuống là tăng được lực ép không cần dùng điện, nhưng ép nhiều mẫu thì cũng mệt.

Như vậy là chúng ta đã có máy ép bê tông riêng, tuy nhiên số khuôn quá ít và phải đầm chọc bằng que đầm tay không có bàn rung.

Nghe nói bên ngành địa chất cũng có mọt phòng thí nghiệm bê tông do anh Dần cũng là sinh viên đại học Bách Khoa khóa I ngành địa chất. Anh học sau tôi 1 lớp ở trường Chu Văn An. Tôi đã biết đến thăm phòng thí nghiệm này ở phố Đoàn Thi Điểm. Anh Dần cho biết có một máy ép bê tông chạy điện và 9 khuôn đúc bê tông bằng gang của Trung Quốc mà chẳng làm gì. Tôi rất thích thú các thiết bị này và hỏi mượn số khuôn đó và vẫn chuyển về phòng thí nghiệm của ta. Về sau phòng thí nghiệm đó giải tán, tôi đề nghị trường mua lại cái máy nén còn mới toanh chạy điện. như vậy khoảng đầu năm 1964 phòng thí nghiện có 2 máy nén một cái chạy điện và một cái có cần ép tay. Máy đưa về thuê thợ cơ khí lắp ráp đàng hoàng nên hoạt động rất tốt. số khuôn đã mượn họ quên không tính tiền, coi như tặng mình luôn. Tôi không nhắc anh Dần về chuyện này.

Cuối năm 1964 trường còn một số tiền cùng quỹ, nếu khồng dùng thì bị thu nên bảo các phòng thí nghiệm có mua sắm thiết bị gì thì cho tiền mua. Bộ môn đến tổng công ty thiết bị ở phố Tràng Thi để tìm hiểu. May quá lại tìm thấy một máy thí nghiệm kéo vạn năng còn lại trong kho và mua ngay về. Lúc đó anh Lê Quí Hữu là trưởng bộ môn, tôi , anh Dinh, anh Sinh và anh Lý bàn nhau tự lắp đặt máy vì có 2 anh Sinh và Lý là kỹ sư cơ khí. Máy lắp xong thì trường tôi sơ tán lên Lục Nam (Hà Bắc). Phòng thí nghiệm được chuyển lên đó có mang théo máy nén ép tay, nên công việc thí nghiệm vẫn làm được như khi ở Hà Nội vì trên đó không có điện. Viện nghiên cứu cũng phải đi sơ tán, họ toàn dùng máy chạy điện nên không mang theo được phải đưa mẫu bê tông về Hà Nội để thí nghiệm. Lúc đó họ hối hận vì đã cho trường máy ép tay. Họ phàn nàn với tôi, tôi cũng chỉ cười xòa, chứ trả lại họ làm sao được.

Sau này mới thấy máy kéo uốn vạn năng tự lắp sai, không bao giờ dùng được, hoàn toàn để không. Lãng phí quá mà tổ môn không đề nghị sửa chữa lắp lại coi như bỏ không hoàn toàn cho đến ngày thanh lý. Thật quá lãng phí. Ngoài ra còn mua được một máy siêu âm của Ba Lan có thể xác định không phá hoại trên mẫu hoặc kết cấu công trình về cường độ và mô đun đàn hồi của bê tông. Máy không kèm theo bản thuyết minh, nhưng chẳng ai quan tâm tìm hiểu sử dụng chỉ để trong tủ có ngọn đèn điện thắp sáng suốt ngày đêm để sấy thật quá lãng phí. Tôi có đề nghị với tổ: không dùng máy này để thí nghiệm ở hiện trường, nhưng có thể giới thiệu với sinh viên để họ biết thêm một phương pháp hiện đại thí nghiệm bê tông không phá hoại, nhưng không ai thực hiện. Về sau tôi cũng không rõ đã thanh lý máy này thế nào. Khi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô tôi có xin được hình ảnh máy đầm mẫu bê tông trong phòng thí nghiệm. Đồng thời cũng tìm hiểu được các chi tiết máy ở phòng thí nghiệm. Tôi mang về bàn với xưởng viên này đầm mặt cũ xin được ở công trường làm bàn rung bê tông. Chỉ cần bật nguồn máy đầm đặt trên giá đỡ gắn 4 lò xo là trở thành bàn rung. Bác Viễn phụ trách xưởng rất tích cực khi xin được 4 lò xo ở xưởng sửa chữa ô tô ở Hà Đông mang về lắp ráp, cho ra đời chiếc bàn rung nhỏ của phòng thí nghiệm VLXD. Chỉ có điều là máy rung hơi mạnh nên không phải rung lâu mà mặt bê tông trễn mẫu đã phẳng lỳ như thế là cũng đạt yêu cầu. Xưởng cũng làm cho ta nhiều dụng cụ đơn giản khác như khay đựng mẫu, bay trộn, côn độ sụt. Tôi cũng mang từ Liên Xô dăm bảy chục mẫu vật liệu và xin bên phòng thí nghiệm địa chất các mẫu đá và thu thập các mẫu vật liệu ở các công trường xây dựng, rồi nhờ xưởng mộc làm cho một loạt khay gỗ nhiều ô ngăn để đựng các mẫu đá. Tôi có sang nhà máy ở Cầu Đuống xin được nhiều mẫu gỗ và tiêu bản nhờ xưởng gỗ gia công thành mẫu nén và uốn mẫu gỗ. Sau này không biết biến đi đâu hết. Về sau phòng thí nghiệm đặt mua được một máy thí nghiệm hệ số thấm nước của bê tông của Italia nhãn hiệu Mastest. Nhưng tổ không có đề tài nghiên cứu và tiêu chuẩn TCVN về bê tông vẫn quy định xác định áp lực thấm nên máy rất ít sử dựng. Tổ cũng mua được một máy ép nhỏ có thể thí nghiệm mẫu xi măng và vữa. Do có nhu cầu kiểm tra siêu âm cường độ bê tông ở công trường nên mua được máy siêu âm mới không rõ của nước nào và bây giờ có hoạt động được không. Tôi viết nhiều về phòng thí nghiệm vì đối với môn VLXD thì phòng thí nghiệm qua trọng lắm và chúng ta phải mất rất nhiều công sức, trải qua bao nhiêu năm mới xây dựng được phòng thí nghiệm này, gần như từ không có đến có.

Về giảng dạy, tôi giảng lớp chuyên tu 1 coi như khóa 1. Lớp anh Giang là lớp chính quy khóa 1, nhưng được gửi sang Đại học Bách Khoa học 2 năm đầu, nên đã học môn VLXD ở bên đó, tôi chỉ hướng dẫn một số phần đồ án tốt nghiệp phần thiết kế thành phần bê tông và tra các bảng xâm thực bê tông để họ đưa vào đồ án tốt nghiệp. Tôi cũng tham gia hội đồng chấm tốt nghiệp các đồ án về thi công bê tông. Khóa 2 có 2 lớp: 2A là lớp anh Vũ mão và 2B là lớp anh Thụ (có thời gian là hiệu phó ĐHTL). Khóa 3 cũng có 2 lớp, khóa 4 có 3 lớp trong đó có một lớp thi công (lớp anh Chung). Khóa 5 có 2 lớp: 5A gồm các học sinh trung cấp về học, thời gian có bớt đi một năm và 5B có các anh Cữu, Khánh, Tuyết ở lại trường. Đến khóa 6 có 6 lớp 6A, 6B, 6C, 6D, 6E là học sinh phổ thông 6G là sinh viên đã học qua trung cấp. Lớp 6G có cô Lan, nhựng lại bỏ môn VLXD. Còn một số lớp chuyên tu: lớp chuyên tu 1 học 60 tiết VLXD theo chương trình đào tạo do Trung Quốc soạn thảo, tôi dạy và đã kể chuyển ở phần trên, lớp này chỉ học 1,5 năm (có làm đồ án tốt nghiệp) mà dành cho môn VLXD 60 tiết, phải thấy là họ đánh giá cao tầm quan trọng của VLXD, đến lớp chuyên tu 2 học 2 năm lại bỏ VLXD. Sang lớp chuyên tu 3 lại có 60 tiết VLXD và thời gian học kéo dài 3 năm. Tôi tìm hiểu chương trình trung cấp họ học VLXD 50 tiết sau đó học tiếp môn thi công với cùng một thầy giáo không có thí nghiệm chỉ hoàn toàn lý thuyết. Mặt khác các lớp này đều không học môn hóa đại cương. Tôi đã đọc giáo trình môn hóa trường ta, trích ra những vấn đề có liên quan đến vật liệu như vấn đề kết tinh, vô định hình, thủy phân, thủy hóa, lực hút phân tử… và dành một vài giờ để giảng cho lớp này. Trước khi đi vào môn VLXD các anh Hồng, Hỷ học lớp này ở lại trường. Lớp tại chức K1 cũng không học VLXD. Phải nói rằng chương trình các lớp không thống nhất và rất tùy tiện do phòng giáo vụ sắp xếp. Tôi là giáo viên duy nhất nên giảng dạy tất cả các lớp. Đến năm 1965 có 2 anh Hỷ, Minh bổ sung về bộ môn. Tôi giao cho mỗi anh giảng 1 lớp là 6B và 6C. Từ khóa 7,8,9 tôi đi NCS ở Liên Xô nên không giảng dạy lớp nào. Ngoài việc giảng dạy tôi được điều động làm các công việc khác.

Sau khi dạy chuyên tu K1 xong ở Hà Đông (cơ sở của trường TCTL) tôi được điều động về công tác ở ban kiến thiết của học viện Thủy Lợi Điện Lực ở phố Thái Hà để giúp ban kiến thiết thiết kế một số công trình như các xưởng cơ khí, xưởng mộc, nhà trẻ cùng anh Bá (chồng chị Thoa) để đẩy nhanh tiến độ xây dựng vì hai chúng tôi đều là kỹ sư xây dựng. Làm việc ở ban kiến thiết khoảng 6, 7 tháng, tôi lại về Hà Đông chuẩn bị giảng dạy 2 môn: hình học họa hình và vẽ kỹ thuật cho các lớp K2 vì trường chưa có giáo viên dạy các môn này, phòng giáo vụ đề nghị tôi và anh Bảo (giáo viên môn kết cấu bê tông cốt thép) dạy. Tôi là chính, phải lo xây dựng chương trình môn học, chuẩn bị tư liệu (giáo trình và mẫu vật để sinh viên tập vẽ) còn anh Bảo chỉ lo giảng cho lớp 2B, tôi giảng lớp 2A. Tôi về đại học Bách Khoa gặp trưởng bộ môn (anh Môn) xin được đề cương môn học và mượn giáo trình về biên soạn tập bài giảng in phát cho sinh viên. Cuối cùng chúng tôi cũng hoàn thanh nhiệm vụ. Sau đó trường tổ chức lớp tại chứ 1 gồm các cán bộ trung cấp thủy lợi công tác ở trường, các giáo viên và cơ quan của bộ cũng đến học. Tổ môn toán thiếu người và phòng giáo vụ lại giao cho tôi dạy lớp này và bác Khang dạy lớp chuyên tu 3. Tôi lại về đại học bách Khoa hàm thụ xin đề cương và mượn tài liệu in về toán có cả lý thuyết và bài tập cho sinh viên hàm thụ về in lại ở trường để phát cho sinh viên và giảng dạy trên cơ sở các tài liệu đó. Tôi là cựu sinh viên bách khoa nên quan hệ với trường dễ dàng và lúc đó đúng là quan hệ xã hội chủ nghĩa, giúp đỡ nhau hoàn toàn vô tư. Tháng 05/1965 tôi được cử làm phó ban kiến thiết đặc trách xây dựng cơ sở 2 của trường ở nơi sơ tán (xã Nghĩa Phương, huyện Lục nam, Hà Bắc), vì lúc đó trung ương yêu cầu các trường đại học phải sơ tán triệt để xa Hà Nội vì có tin máy bay Mỹ sẽ bắn phá thả bom Hà Nội. Tôi chỉ đạo 5 lớp sinh viên khóa 5 và về sau cả các lớp khóa 7 đi khai thác vật liệu trên rung như: tre, nứa, gỗ, tranh và làm nhà ở, lớp học, khu nhà ăn, nhà bếp, thư viện… Tôi quan hệ với chủ nhiệm hợp tác xã xin đất làm nhà, thuê thợ mộc, trình trường làm một số nhà kiên cố cho các phòng thí nghiệm. công việc tiến hành xong để tháng 9 toàn trường kéo lên có chỗ ăn ở để hoạt động giảng dạy không bị gián đoạn. Tôi dạy 2 lớp 5A và 5B và sau đó là 6Đ, 6E. Khi đó bộ môn được bổ sung 2 giáo viên là anh Hỷ (chuyên tu 3) và anh Minh (khóa 6 đại học Bách Khoa), tôi bồi dưỡng cho 2 người: soạn giáo án chung và cho họ giảng trước khi lên lớp và thỉnh thoảng lên nghe các anh ấy giảng trên lớp để góp ý thêm. Phải nói rằng việc bồi dưỡng giáo viên mới như vậy là rất chu đáo.

Đầu năm 1966 bộ đại học và chuyên nghiệp tổ chức hội nghị thi đua yêu nước toàn ngành gồm tất cả các trường đại học và trung cấp chuyên nghiệp ở Hà Nội và các nơi khác. Lúc đó trường đã sơ tán toàn bộ lên Lục nam. Giấy mời chuyển về Hà Bắc, rồi về huyện Lục Nam, rồi qua xã Nghĩa Phương mới gửi đến trường, mất mấy ngày. Giấy mời 2 đại biểu: hiệu trưởng và 1 chiến sĩ thi đua tiêu biểu. Trưa hôm trước ngày họp trường mới nhận được giấy mời. Bác Trịnh Hiệu trưởng bàn với công đoàn cử tôi là chiến sĩ tiêu biểu cùng bác Trịnh về Hà Nội ngay. Đường xá đi lại khó khăn vì phải qua mấy phà, mãi đến 4 giờ chiều mới tới hà Nội và đến ngay bộ đại học để hỏi tình hình. Bộ nói trường ta phải có 2 báo cáo: Báo cáo của hiệu trưởng và chiến sĩ thi đua tiêu biểu và sáng mai phải đọc rồi. Bác Trịnh lo lắm, tôi nói với bác không lo, đêm nay tôi sẽ viết cả 2 báo cáo. Sáng sớm mai tôi mang đến trước giờ họp để bác thông qua xem có bổ sung gì không. Đêm hôm đó tôi thức trắng dưới ngọn đèn dầu tôi đã viết báo cáo của trường. Rất may là tôi chuyên viết báo thi đua hàng tháng cho hiệu trưởng (vì lúc đó không có cán bộ tổng hợp và công đoàn trường được giao trách nhiệm tổng hợp công tác thi đua của các đơn vị) nên tôi vẫn nhớ các thành tích của trường. Tôi là chiến sĩ thi đua 6 năm liền lại là người trực tiếp chỉ đạo xây dựng khu sơ tán để trường sơ tán triệt để. Sáng sớm hôm sau tôi đưa bác Trịnh đọc báo cáo của trường. Bác Trịnh bảo viết thế này là được rồi không phải viết thêm gì nữa. Trong báo cáo tôi cũng nhấn mạnh đến việc xây dựng cơ sở nơi sơ tán, không phải ở nhờ nhà dân, sơ tán toàn bộ trường và việc giảng dạy học tập vẫn đảm bảo. Các trường khác không làm được như vậy nên trong giờ giải lao họ đến gặp bác Trịnh và tôi để trao đổi học hỏi kinh nghiệm. Bác Trịnh rất yên tâm và vui lòng về việc này. Cũng chính vì có thành tích như vậy nên tôi được trường quan tâm hơn.

Sau khi giảng xong cho khóa 6, tôi được trường và bộ cho đi NCS ở Liên Xô cùng với anh Cẩn. Chúng tôi chỉ đi sau anh Đặng Túc là bí thư đoàn và đảng viên dự khuyết. Nhưng từ năm ấy phía Liên Xô yêu cầu NCS phải học tiếng Nga 1 năm ở Việt Nam rồi mới sang Liên Xô. Cho nên cuối tháng 12/1967 chúng tôi mới lên đường sang Liên Xô. Ở nhà bộ môn VLXD chỉ còn 2 người là anh Minh và Hỷ dạy lý thuyết và anh Dinh hướng dẫn thí nghiệm và nằm trong tổ môn thi công – vật liệu. Khóa 4 ra trường bộ môn được bổ sung 1 giáo viên dạy VLXD là Tông Văn Khang, nhưng chỉ 1 năm sau anh Khang được điều đi công tác ở Lào, nghe nói bị bệnh nặng phải về quê sinh sống ở huyện Hà Trung (Thanh Hóa) và bộ môn không nhận được thông tin gì về anh. Khóa 5 ra trường bộ môn được bổ sung anh Đồng Đạo Tuyết nhưng anh Tuyết chỉ dạy 1 lớp (9N) rồi chuyển sang dạy môn thi công. Sang năm 1969 trường trở về Hà Nội. Có một số thay đổi về tổ chức. Khoa thi công thiết bị được thành lập, bộ môn VLXD tách khỏi tổ môn thi công vật liệu thành tổ môn riêng mà anh Minh tổ trưởng. Tôi bảo vệ luận án Phó Tiến Sĩ và vể trường ở Hà Nội được biết anh Dinh đã chuyển đi, cô Lý học trung cấp thủy lợi (sau này là vợ anh Minh) thay anh Dinh quản lý phòng thí nghiệm và tổ môn có thêm anh Hoàng Văn Phây (khóa 6) và anh Nguyễn Thái Hưng (khóa 5) được nhà trường cho đi bổ túc hóa học ở trường Đại học Tổng hợp một thời gian. Như vậy là tổ môn có 6 người. Tôi hơi ngạc nhiên trường cử tôi đi NCS trở thành Phó Tiến sĩ có trình độ cao và là người đầu tiên lập nên bộ môn này đã từng là trưởng tổ môn mà trường không đợi tôi để giao chức vụ trưởng tổ môn mà lại vội vàng cử anh Minh chỉ là kỹ sư và ngoài Đảng. Tôi học ở Liên Xô nên thường xuyên sinh hoạt với bộ môn bên đó. Tôi rất hiểu là trưởng bộ môn phỉa là người có bằng cấp cao nhất, uy tín lớn nhất và có thể thâm niên cũng cao nhất để lãnh đạo bộ môn và quan hệ với bên ngoài. Anh Minh cũng thấy áy náy có lần bảo tôi: “hay anh làm trưởng bộ môn đi”. Nhưng nếu anh ấy thực ra có ý ấy thì phải đặt vấn đề với khoa với trường chứ nói riêng với tôi thì giải quyết được gì. Tôi nghe trưởng khoa, rồi trưởng phòng tổ chức nói với tôi: “Tổ trưởng bộ môn ai làm chẳng được, chỉ họp tổ môn phân công giảng dạy như tổ trưởng công đoàn thôi”. Họ nghĩ đơn giản như vậy vì họ có biết gì về tổ môn ở nước ngoài đâu. Họ tốt nghiệp kỹ sư chỉ biết lớp học của họ thôi. Tôi được bầu làm bí thư chi bộ. Năm ấy trường tôi có 2 NCS về nước là anh Bảo (từ Rumani) và tôi do trường cử đi học. Trước đó có anh Đặng Túc. Năm ấy nước lên to lắm có nguy cơ vỡ đê, nhất là máy bay Mỹ vẫn thường xuyên đánh phá miền Bắc. Bộ giao cho trường nhiệm vụ chống lụt. Đáng lẽ tôi được nghỉ 2 tháng nhưng chưa đầy 1 tháng đã được cử đi chống lụt với chức danh trưởng đoàn. Đưa 1 lớp sinh viên chuyên tu khoa thi công thiết bị đi trực ở trên đê sông Đáy, rồi qua đê sông Tích, bác Thâu lúc đó là hiệu trưởng giới thiệu tôi là phó tiến sĩ trưởng đoàn, có biết đâu rằng tôi có gốc là kỹ sư xây dựng, PTS về vật liêu, có khiến thức gì về chống lụt đâu. Anh Minh tổ trưởng lại không phải làm việc này. Qua chống lụt thì trường đại học lại sơ tán đi các nơi. Tổ môn phân tán. Tôi về dạy 1 lớp ở Mai Lĩnh, sau xuống Phú Xuyên dạy lớp 13N, dau lại được điều đồng về làng Thượng Lan huyện Việt Yên (Hà Bắc) gần Thi Cầu. Khoa thi công thiết bị sơ tán về đây, còn tổ môn cũng phân tán đi dạy ở các nơi. Tôi chuyển sang dạy tiếng Nga cho 2 lớp 10T và 11T. Được 1 thời gian thi tham gia ban chỉ huy đắp đê áp trúc ở Bắc Giang với tư cách là ủy viên ban chỉ đạo phụ trách kỹ thuật, đó là công tác chính. Trong đoàn đi đắp đê có nhiều thầy giáo và sinh viên 2 lớp 11C1 và 11C2. Sau khi làm xong công việc này, lại có quyết định cử tôi làm phó đoàn chống địch phá đê ở Thị Cầu. Trưởng đoàn là bí thư tỉnh đoàn Hà Bắc. Các lớp sinh viên thay nhau túc trực ở một làng gần đầu cầu Thị Cầu. Tôi hàng ngày lên lớp và tổ chức thực tập cho sinh viên theo một tài liệu của bộ Thủy Lợi. Sau đợt đánh B52 của đế quốc Mỹ vào một ngày đầu tháng 1 năm 1973 anh Triệu cán bộ phòng tổ chức đến gặp tôi ở Thị Cầu yêu cầu tôi về gặp Ban giám điệu ngay để nhận nhiệm vụ mới. Tôi phải theo anh Triệu về gặp bác Thâu. Bác đưa cho tôi một quyết định của bộ Thủy Lợi triệu tập tôi về gặp tổ chức bộ vào 1 giờ 30 chiều hôm ấy, lúc đó đã là 11g30’. Tôi về nhà ăn vội bát cơm nguội rồi đạp xe về bộ thủy lơi. Vụ tổ chức của bộ lại yêu cầu tôi đến tổ chức trung ương để nhận nhiệm vụ khẩn cấp. Tổ chức trung ương lại yêu cầu tôi đến tổng cục chính trị nhận nhiệm vụ đặc biệt. Vụ tổ chức của tổng cục chính trị yêu cầu tôi sáng mai phải đến để kiểm tra tiếng anh. Đâu đó là phiêm dịch ở miền nam sau khi hiệp định Paris được ký kết. Tôi bỏ tiếng anh đã lâu, từ năm 1955 không dùng đến, chỉ đọc sách báo chuyên môn khi làm NCS ở Liên Xô. Nên tối hôm đó phải đọc lại quyển văn phạm và từ điển tiếng anh. Sáng hôm sau đi thi, cũng đạt yêu cầu. Bộ Thủy Lợi đưa danh sách 5 người chỉ đạt 2 người là tôi và anh Hiếu ở vụ Cơ khí của bộ Thủy Lợi.

Trường đề bạt tôi làm phó chủ nhiệm khoa thi công thiết bị với mức lương mới. Tôi là thượng úy thuộc quân giải phóng miền Nam, làm sĩ quan phiên dịch ở trụ sở ủy ban quốc tế ở Quảng Trị. Cuối năm 1973 tôi được ra quân, trở về trường phụ trách phòng khoa học thay anh Túc chuyển lên Bộ. Tôi vẫn có quan hệ với bộ môn. Anh Hỷ cũng ở Ba Lan về. Thời gian sau thì anh Hỷ được biệt phái làm cán bộ kỹ thuật sửa chữa đập Đáy. Anh Hương chuyển về tổ Hóa, còn Phậy xin về địa phương Thanh Hóa. Như vậy lúc đó ở tổ chỉ còn anh Minh, chị Lan và cô Lý. Tôi làm ở phòng khoa học 1 năm sau đó về khoa làm phó Khoa và sinh hoạt với tổ VLXD. Anh Khoan trưởng khoa sau đó chuyển sang làm trưởng phòng tổ chức, anh Cần làm quyền chủ nhiệm khoa rồi chuyển về trường đại học Đà Nẵng ngay sau giải phóng Miền Nam và tôi thay anh Cẩn phụ trách khoa và làm phó bí thư đảng ủy khoa. Anh Tài trưởng bộ môn Điện làm phó khoa kiêm bí thư đảng ủy khoa, anh Tĩnh làm phó khoa và kiêm trưởng bộ môn thi công. Tôi tham gia giảng dạy mỗi năm một lớp sinh viên của khoa và làm giáo viên chủ nhiệm luôn. Theo đề nghị của bộ môn ngoại ngữ tôi dạy cả tiếng anh cho lớp 16T3 học năm thứ 3 phần đọc sách chuyên môn. Trong buổi giảng tôi nói toàn tiếng anh nên anh em chẳng thích (lớp này có cậu Khương làm ở lại trường vì làm đồ án tốt nghiệp với đề tài về cơ khí máy xây dựng). Như vậy tính đến thời gian ấy tôi đã dạy 6 môn ở đại học Thủy Lợi. Đến cuối năm 1982 tôi sang lại Liên Xô làm thực tập sinh cấp 2. Đáng lẽ đi năm trước cùng với anh Ân Niên và anh Viềng theo danh sách bộ Thủy Lợi gửi sang bộ đại học. Nhưng vì 3 chỉ tiêu cùng đi Liên Xô cả nên bộ đại học để tôi đi năm sau. Anh Viềng thì Liên Xô không nhận nên chỉ có anh Niên đi thôi và năm sau cũng chỉ có mình tôi. Do bản thân hết sức cố gắng và nhờ một số thuận lợi nên tôi đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học. Sau hơn 2 năm tôi về nước thì trường bố trí tôi phụ trách phòng quản lý khoa học thay anh Mẫn đi chuyên gia ở Angola. Khoảng gần 2 năm sau anh Mẫn về tôi phụ trách đào tao sau vẫn làm việc với bộ môn VLXD nhưng không dạy mà chỉ tham gia chấm thi và chấm bài tập lớn về thiết kế thành phần bê tông. Khi tôi đi thực tập sinh cấp 2, thì ở trường có chuyện sát nhập khoa thi công thiết bị với khoa thủy công thành khoa công trình. Anh Viềng làm trưởng khoa. Trường thành lập khoa cơ khí, nên các bộ môn cơ khí và vật lý về khoa cơ khí, còn tổ môn hóa cũng đi khoa khác. Chỉ có 2 bộ môn thi công và VLXD về khoa công trình. Về sau anh Viềng lên chức Hiệu Phó, thì anh Tĩnh là chủ nhiệm khoa công trình. Năm 1989 trường thành lập thư viện tách khỏi phòng giáo vụ, trường đề nghị tôi làm giám đốc thư viện, nhưng tôi từ chối, vì đã có kế học đi chuyên gia Angieria. Ở tổ môn VLXD anh Minh làm tổ trưởng và cô Lan làm tổ phó, nhưng mọi việc thì do anh Minh anh Hỷ giải quyết vì họ có quan hệ đồng hương Nghệ An và anh Minh giới thiệu con riêng của anh rể làm vợ anh Hỷ. Cô Lan chỉ làm những việc phụ trách như lĩnh lương… Tôi đi Algieri gần năm năm từ 9/1989 đến tháng 4/1994 với chức danh giáo sư đại học do nước bạn phong vì thâm niên giảng dạy và làm phó giáo sư lâu năm rồi. Trong hồ sơ gửi cho nước bạn thì ghi tôi chỉ là phó giáo sư tiến sĩ. Họ phong như vậy để giao nhiệm vụ đúng với chức danh ấy. Tôi dạy đại học, sau đại học, hướng dẫn đồ án tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và hướng dẫn 3 tiến sĩ vì ở trường này chỉ có tôi kịp là giáo sư. Các chuyên gia Việt Nam khác đều là phó giáo sư. Tôi chỉ kịp giảng dạy lớp cao học và giúp 3 thạc sĩ bảo vệ luận văn, còn tiến sĩ thì không kịp, vì tôi phải về nước sớm do tình hình Angieri lúc đó hết sức phức tạp về an ninh chuyên gia Việt Nam phải về ngay trước khi kết thúc năm học. Trong thời gian tôi đi chuyên gia tổ môn VLXD vẫn giữ nguyên, chỉ có anh Hỷ tham gia một khóa thư ký (thủ tục) công đoàn trường. Bình thường thì tôi về hưu vào cuối năm 1994, nhưng tôi được phong giáo sư năm 1991 nên được ở lại 5 năm và về lại tổ môn VLXD. Tôi về công tác ở bộ môn thì anh Hỷ lại làm tổ trưởng. Anh Minh đi phục vụ sản xuất ở đoàn ĐH2 của trường ở Ninh Thuận, do anh Bướm làm giám đốc. Tôi chỉ làm việc đến giữa năm 1997 thì nghỉ hưu để sang làm việc bên ngành giao thông làm cố vấn cho giám đốc Sơn (là phó tiến sĩ bảo vệ trong nước do tôi hướng dẫn). Anh Sơn tha thiết đề nghị tôi về công ty để sang làm ngay làm chuyên gia cố vấn cho Liên doanh CEI18 (của tổng 1 và 8) làm đường Viên Chăn. Ở đây phải sử dụng tiếng anh hoàn toàn mà công trình không ai đáp ứng được. Tôi đã chuyển đi và kết thúc 38 năm công tác ở ĐHTL. Thời đó anh Hỷ và anh Minh cũng sắp về hưu cả, để anh Oanh về tổ môn năm 1979 làm trưởng bộ môn.

Có một số biến động về nhân sự năm 1979 Nguyễn Như Oanh sinh viên 16T3 ra trường, ở lại trường về tổ môn VLXD. Năm 1991 Lý chuyển lên thư viện và Đinh Thị Nhung cũng là trung cấp thủy lợi chuyển từ phòng thí nghiệm cơ học đất về thay Lý. Như vậy tổ môn chỉ còn 3 người. Tôi về hưu sang làm việc ở công ty tư vấn thí nghiệm công trình giao thông 1 ở phố Cát Linh nên không biết được tổ môn hoạt động như thế nào. Do thiếu giáo viên nên Oanh nhờ anh Uyên và Trung (con tôi) là trưởng phó phòng VLXD của viện KHTL dạy. Khoảng năm 2005 Oanh có đề nghị tôi dạy VLXD cho 1 lớp cao học (còn 1 lớp Oanh dạy). Tôi dạy 2 khóa sau đó hình như chỉ còn 1 lớp thì chỉ một mình Oanh dạy thôi. Khoảng 2008 Te đề nghị tôi làm người hướng dẫn thứ 2 luận án của Đỗ Hồng Hải lúc đó là trưởng ban quản lý công trình đập Lòng Sông ở Bình Thuận. Là người hướng dẫn 2 nhưng thực tế là hướng dẫn 1 vì đề tài luận án của Hải là đề tài vật liệu sử dụng phụ gia khoáng cho bê tông. Tôi cũng tham gia giảng dạy ở nhiều nơi: 7 năm dạy đại học ở trường đại học dân lập Hải Phòng, 5 năm ở trường đại học giao thông, 10 năm dạy lớp cao học vật liệu ở khoa VLXD và 1 năm dạy lớp cao học cầu đường ở đại học xây dựng. Ngoài ra cũng tham gia hướng dẫn 2 NCS nữa là Nguyễn Ngọc Sơn  ở tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 và Nguyễn Văn Thịnh ở Đại học Kiến trúc trước khi về hưu ở ĐHTL và tham gia công tác đào tạo tiến sĩ ở các trường và viện: đại học xậy dựng, đại học giao thông vận tải, đại học kiến trúc, đại học khoa học tự nhiên, đại học bách khoa, viện khoa học công nghệ xây dựng, viện khoa học công nghệ giao thông vận tải, viện kỹ thuật quân sự xây dựng, học viện kỹ thuật quân sự chủ yếu là sau khi về hưu, nhưng ở đâu cũng ghi nhận tôi là người của đại học Thủy Lợi.

Đối với việc giảng dạy thì việc biên soạn giáo trình là việc quan trọng. Đối với lớp chuyên tu 1 giảng dạy vào đầu năm 1960 tôi chỉ viết giáo án, không có tài liệu phát cho sinh viên. Đến lớp khóa 2,3 tôi đã thu thập được một số tài liệu và có tài liệu (tập bài giảng) của chuyên gia Trung Quốc Đỗ Như Lầu tôi có biên soạn tài liệu phát cho sinh viên. Sau đó anh Lê Quí Hữu học ở Trung Quốc về cho tôi quyển giáo trình VLXD của học viện thủy lợi điện lực Vũ Hán. Tôi thấy quyển giáo trình này rất hay, đầy đủ và thích hợp với ngành thủy lợi nên đã tự dịch toàn bộ và in phát cho sinh viên khóa 4,5. Trong tài liệu này có bảng tra xâm thực bê tông trong môi trường nước dịch từ tiêu chuẩn của Liên Xô. Tôi đã đưa vấn đề này vào bài tập lớn về thiết kế thành phần bê tông. Khi đó trường đề nghị tôi viết giáo trình đầu tiên, tôi đã dựa và giáo trình của Trung Quốc kết hợp với một số tài liệu khác trong đó có một số kết quả nghiên cứu thí nghiệm ở nước ta để viết quyển giáo trình vật liệu đầu tiên của trường và ở nước ta, được xuất bản ở nhà xuất bản nông thôn thuộc bộ nông nghiệp cùng với 2 giáo trình khác của trường là giáo trình kết cấu và giáo trình bê tông cốt thép. Hai giáo trình này dễ biên soạn vì ở đại học Bách Khoa đã có những giáo trình các môn này rồi. Còn giáo trình VLXD là dựa vào giáo trình của Trung Quốc (bản dịch khảng 500 trang) và nhiều tài liệu tham khảo khác nên mất rất nhiều công sức. Giáo trình VLXD của trường đại học xây dựng xuất bản năm 1977. Bản thảo một mình tôi viết nộp cho nhà xuất bản năm 1964. Nhà xuất bản cũng đi sơ tán, sang năm 1965 mới đưa bản đánh máy cho trường để tác giả sửa lỗi trước khi in chính thức. Lúc đó tôi đang công tác, chỉ đạo xây dựng cơ sở sơ tán của trường nên bận rộn suốt ngày. Khi đó có anh Minh và Hỷ về trường, cũng lên đấy, vì có tôi ở đó bồi dưỡng giáo viên mới, tôi nhờ hai anh sửa bản in thử và chuyển lại cho nhà xuất bản. Tôi không có thời gian xem lại, nên có một số lỗi nhỏ. Có chỗ do bản thảo, có chỗ do đánh máy. Nếu tôi tự làm việc này thì chắc đã sửa được trước khi in chính thức. Giáo trình in thành 2 tập, tổng cộng gần 400 trang. Khóa 6 được học môn VLXD theo giáo trình này. Mỗi người được mượn 1 quyển ở thu viện nên việc giảng dạy học tập thuận lợi và chất lượng hơn các khóa trước nhiều. Đến năm 1980 tổ môn đề nghị trường cho viết quyển giáo trình mới in ở NXB Nông nghiệp. Lúc đó tôi công tác ở khoa, anh Hỷ là phó tiến sĩ ở tổ, nên được phân làm chủ biên, nhưng không viết phần nào. Tôi viết phần bê tông và vữa, cô Lan viết phần các tính chất chung và vôi xi măng, còn anh Minh viết bitum, gỗ và thép. Lúc đó đã có thêm các tài liệu của Liên Xô và nhà nước ban hành một số quy phạm tiêu chuẩn. Tôi thay thế các bảng đánh giá ăn mòn bê tông của môi trường nước trong giáo trình cũ (theo tiêu chuẩn của Liên Xô) bằng các bảng mới theo tiêu chuẩn mới của Liên Xô. Như vậy là năm 1980 ra dời giáo trình VLXD mới đóng thành một tập dày. Về sau này tổ môn cũng biên soạn tiếp giáo trình mới, trong đó có giáo trình của Mỹ được dịch tiếng Việt, tôi làm nhiệm vụ hiệu đính. Tôi có tham gia đóng góp nhiều ý kiến về nội dung, chỉnh sửa và phản biện giáo trình hiện dùng được xuất bản năm 2022 ở nhà xuất bản xây dựng.  

Khi đi NCS ở Liên Xô về tôi có mang theo nhiều tài liệu về thí nghiệm VLXD và quyển bài tập về môn VLXD. Tôi đã biên soạn giáo trình thí nghiệm VLXD với 2 tập dày in ở nhà xuất bản đại học. Mục tiêu biên soạn là sách này dùng chung cho các trường đại học liên quan và được mở rộng để các cơ quan sản suất có thể sử dụng, nên khối lượng cuốn sách mới lón như vậy. Tôi có mời anh Quý (chủ nhiệm khoa VLXD ở ĐHXD) và anh Hữu (trưởng bộ mô VLXD trường ĐH GTVT) tham gia. Anh Hữu có viết phần thí nghiệm nhượng đương bitum, còn anh Quý không viết phần nào, vì lúc đó trường ĐHXD ở Hương Canh xa xôi quá. Tôi viết quyển 2 bài tập VLXD gồm 100 bài tập có lời giải, nhưng cũng đưa tên anh Hỷ, anh Minh, cô Lan vào tập thể tác giả. Họ không viết phần nào cả. Quyển này cũng được in ở NXB Đại học để dùng chung cho các trương, nên in với số lượng lớn. Nhiều năm sau này anh Lự ở ĐHXD cũng viết quyển bài tập VLXD để đồng bộ với giáo trình lý thuyết của họ. Tôi chưa đọc quyển này, chắc họ cũng tham khảo tài liệu của ta. Còn về tài liệu tham khảo tôi cũng đưa về quyển các phương pháp thiết kế thành phần bê tông các loại của Liên Xô, tôi có bàn với anh Chinh (Cán bộ vụ kỹ thuật bộ thủy lợi) và anh Tía (trưởng phòng VLXD viện nghiên cứu thủy lợi) cùng dịch. Tôi hiệu chỉnh bản dịch và in ở NXB Nông nghiệp. Tôi có đưa về quyển kểm tra chất trương xây dựng bằng thí nghiệm. của Liên Xô do PGS.TS Popốp chủ biên của viên nghiên cứu về xây dựng của Liên Xô. Tôi đã dịch và bàn với NXB khoa học in. có 3 tình tiết đáng chú ý là tôi đã mang theo quyển sách này khi đi B làm phiên dịch để tranh thủ dịch và đã dịch được một số phần ở Miền Nam, sau này mang về Hà Nội dịch tiếp. Tôi cũng liên hệ với ông Popốp đề nghị ông viết lời tựa. Ông phấn khơi lắm và viết lời tụa ở trang đầu bản dịch. Tài liệu rất được hoan nghênh và được in với số lượng kỷ lục 3000 bản năm 1974. Vào đầu những năm 70 ở ta có chuyện phân cấp quản lý cho huyện. Ở huyện các đội xây dựng dân dụng, xây dựng thủy lợi, xây dựng giao thông. Tôi đặt vấn đề với NXB Nông nghiệp viết quyển “Vật liệu xây dựng cho nông nghiệp” in thành 2 tậpvào năm 1975. Quyển sổ tay thủy lợi go GS Nguyễn Văn Cung tổng biên có mục VLXD. Tôi cũng viết phần này khoảng 30-40 trang. Ông Popốp gửi cho tôi quyển giáo trình VLXD cho cao đẳng. Khi đó nước ta chủ trương mở các trường cao đẳng. Tôi dịch quyển này và có thêm thắt một số tài liệu về Việt Nam đứng tên tác giả là tôi và ông Popốp. Cuốn sách được gửi sang Liên Xô in ở NXB M И P (Hòa Bình) theo hợp đồng với nhà xuất bản đại học Việt Nam. Rất tiếc là lúc đó tình hình Liên Xô rất rối ren (năm 1990), bản thảo để mãi ở NXB M И P mà khong in được vì không có kinh phí. Tôi ở Algieri vẫn giục ông Popốp theo dõi và đôn đốc chuyện này. Ông Popốp quên ông phó giám đốc NXB, mà cũng không giải quyết được, nhưng nhuận bút thì NXB Đại học dã trả tôi trước khi tôi đi Algieri. Thư viện bộ thủy lợi có quyển ăn mòn bê tông bằng tiếng trung (bản dịch tài liệu Liên Xô) đã đưa tôi dịch và lưu bản dịch ở thư viện chứ không in. Viện nghiên cứu thủy lợi dịch các quyển phương pháp thiết kế thành phần bê tông của Trung Quốc để bộ thủy lợi in nội bộ và đưa tôi hiệu định. Sau khi về hưu tôi viết quyển “Phương pháp thí nghiệm vật liệu theo tiêu chuẩn nước ngoài” in ở NXB bộ GTVT và dịch khoảng 50 tiêu chuẩn Mỹ cho vụ Kỹ Thuật bộ GTVT, dịch 3 tài liệu (2 trang bằng tiếng pháp và một tài liệu tiếng anh) cho đại học GTVT. Tôi viết phần VLXD cho sổ tay thủy lợi (lần 2) do anh Giang, thứ trưởng chủ trì, nhưng tài liệu không được xuất bản mặc dù bản thảo đã hoàn thành.

Về công tác NCKH trường ta hoạt động rất ít vào thập kỷ 60, 70. Chỉ có một vài người làm theo các đề tài của bộ. Các bộ môn cơ sở không có hợp đồng nghiên cứu nào. Tuy vậy bộ môn VLXD cũng chủ động làm được một số đề tài nhỏ có ý nghĩa như sau:

(1) Nghiên cứu vữa chống thấm dùng 3 loại cát đang được dùng phổ biến nhất ở Việt Nam (cát việt trì, cát chi lê ở Hòa Bình và cát Đông Triều ở Quảng Ninh) xuất phát từ một câu trong giáo trình của TQ về định nghĩa vữa chống thấm là: mẫu vữa dày 2cm, chịu được áp lực ≥ 2Kgl/cm2. Tôi và anh Dinh đã nghiên cứu đề tài này. Khó khăn lón nhất là không có máy thấm vữa chuyên dụng. Chúng tôi tận dụng máy thấm bê tông ở phòng thí nghiệm của tổng đội công trình ở phố Nguyễn Bỉnh Khiêm do anh Nguyễn Châu Âu (trung cấp thủy lợi khóa 7) phụ trách. Phải làm khuôn đúc mẫu vữa tròn đường kính 6cm dày 2cm đúc một khối bê tông nằm sẵn trong khuôn thí nghiệm thấm bê tông nhưng có một phần khuyết ở đáy khuôn đủ chỗ để lắp mẫu vữa. Khe tiếp giáp của mẫu với khối bê tông được trét bằng parafin hoặc nhựa đường. Sau đó lắp khuôn vào máy và thí nghiệm thấm giống như thí nghiệm mẫu thấm bê tông, nhưng tốc độ tăng lực chậm hơn. Nếu cấp phối vữa nào đó đặt được ≥ 2Kgl/cm2 thì co như vữa chống thấm. Tôi phải xác định nhiều cấp phối vữa xi măng với tủ lệ X:C khác nhau để làm thí nghiệm. Cuối cùng vẽ được đường quan hệ giữa áp lực nước với tỉ lệ X:C và xác định được các tỉ lệ X:C cho cữa chống thấm dùng các loại cát đã nêu với xi măng hải phòng. Kết quả nghiên cứu này không mất kinh phí và được viết thành 3 bài báo đăng trên 3 số tập san Thủy Lợi lúc bấy giờ vì dùng 3 loại cát khác nhau.

(2) Xác định mác xi măng địa phương bằng phương pháp hóa học vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước ở nước ta có khoảng 30 nhà máy xi măng địa phương ở các tỉnh họ không có thiết bị thí nghiệm cường độ nén của xi măng. Tôi đọc tài liệu Trung Quốc có bì báo giới thiệu phương pháp học, nghĩ vậy rất thích hợp với hoàn cảnh của ta. Tôi đã lên nhà máy xi măng ở Sóc Sơn (Sơn Tây) cùng với anh Dinh mang theo bộ thí nghiệm chuẩn độ vôi và thuốc thử để làm cho họ rồi áp dụng công thức để tính cường độ xi măng. Cái khó khăn là không xác định được hàm lượng vôi tự do nên coi như công thức chỉ áp dụng cho nhà máy này với công nhận là hàm lượng vôi tự do của xi măng ở nhà máy này là ổn định. Công thức chỉ áp dụng với nhà máy này thôi. Tất nhiên phải lấy mẫu xi măng ở nhà máy về Hà Nội thí nghiệm Rx để hiệu chỉnh công thức của Trung Quốc và bỏ yếu tố vôi tự do. Kết quả dã bàn giao cho nhà máy (không có bồi dưỡng) và anh Dinh có viết một bài đăng trên báo Thủy Lợi của Bộ TL

(3) Các biểu mẫu thí nghiệm cát ở viện Khoa học Thủy Lợi và tổng đội công trình đều có đưa ra 3 kết quả là modun độ lớn, biểu đồ thành phần hạt (cấp phối) và đường kính bình quân. Biểu đồ thành phần hạt lại có 3 miền: cát lò, cát vừa, cát nhỏ. Tôi thu thập các báo cáo thí nghiệm của phòng thí nghiệm ở tổng đội công trình thấy rằng có nhiều trường hợp modn dộ lớn và đường kính bình quân mẫu thuẫn nhau về độ lớn của cát nên đề nghị nên bỏ đường kính bình quâ, chỉ để modun độ lớn và cấp phối là đủ. Khi sang lại Liên Xô (1982) thì thấy giáo trình mới về VLXD của Liên Xô cũng bỏ chỉ tiêu đường kính bình quân, chỉ có modun độ lớn và biểu đồ thành phần hạt của cát.

(4) Song song với việc sản xuất xi măng địa phương ở nước ta còn sản xuất vôi thủy. Đó cũng là một chất kết dính thủy lực có chất lượng nằm giữa vôi và xi măng. Trong thủy lợi Quảng Bình cũng sản xuất bôi thủy để xây dựng các công trình tiêu thủy nông ở địa phương. Anh Hoàng la phó tu thủy lợi là sinh viên lớp chuyên tu 1 (va chị Bẩy là sinh viên khóa 3 là ợ anh) có nhờ tôi giúp đỡ phuong pháp xác định cường đô nén của vôi thủy một cách đơn giản vì địa phương không có má ép. Vì cường độ vôi thủy không cao thường cường độ nén khoảng 50kg/cm2, tôi đã giúp anh chế tạo khuôn gỗ để đúc mẫu và nén mẫu bằng máy ép đòn bẩy. tôi đã vẽ sơ đồ và hướng dẫn cách thí nghiệm. Ty thủy lợi đã áp dụng và có thư cảm ơn (thời đó không có hợp đồng và không có chế độ bồi dưỡng). Việc giúp đỡ nhau theo phong cách xã hội chủ nghĩa.

(5) Chế tạo cống đất tam hợp và tứ hợp: Giáo trình VLXD của học viện Thủy Lợi điện lực Vũ Hán giới thiệu ống cống làm bằng đất tam hợp (đất + vôi + cát) và đất tứ hợp (đất + cát + vôi + xi măng) để phục vụ công tác tiểu thủy nông. Ở ta lúc đó cũng có phong trào tiểu thủy nông cần rất nhiều cống dẫn nước qua các thửa ruộng và đặt trên các đường nội đồn. Tôi nảy ra ý định sản xuất cống đất ở nước ta. Lúc đó ở Sài Sơn Sơn Tây sản xuất 2 loại chất kết dính cấp thấp là vôi puzolan (vôi + puzolan) (puzolan khai thác ở huyện Tùng Thiên tỉnh Sơn Tây) và vôi + xi măng + puzolan chất lượng tốt hơn được sản xuất ơ Sài Sơn Sơn Tây. Hai chất kết dính này đã được báo cáo trong một hội nghị khoa học, mà tôi được dự. Tôi có ý định dùng 2 chất kết dính này trộn với đất để đúc thử mấy cái cống với đường kính khác nhau. Công việc chuẩn bị rất lớn: phải nhờ xưởng cơ khí và xưởng mộc làm cho khuôn và bộ gá tháo lắp ống cống dễ dàng. Đất lấy ở sau gò Đống Đa (ngày xưa là ruộng). Chất kết dính dùng là vôi + xi măng + puzolan phải lên Sài Sơn xin về. đất phải phơi khô đạp nhỏ sàng qua sàng gạo, rồi trộn với chất kết dính và nước để được hỗ hợp hơi ẩm. Sau đó đổ vào khuôn và đầm bằng thanh đầm lmf bằng gỗ chắc. sau 5 ngayfthaos khuôn, để khô đủ 28 ngày rồi thí nghiệm khả năng chịu lực của ống bằng các đào một hố như huyệt chôn tiểu đặt cống xuống đó, đổ cát chèn ở dưới và 4 bên. Cống được bịt 2 đầ bằng tấm ván và đặt trên 1 tấm ván cứng rồi xếp dần gạch lên trên một cách cân đối và đều đặn, cho đến khi cống bị vỡ. sau đó cán gạch đã dùng để biết lực phá hoại. Công việc làm như vậy là khá lớn. Tôi và anh Dinh hướng dẫn một nhóm 3 sinh viên khóa 4. Đây là nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học đầu tiên ở trường ta. Tôi đã phát biểu ở hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2022 của trường. Năm 2023 định phát biểu tiếp nhưng trong chương trình không có mục mời các giáo sư phát biểu, nên dù đã chuẩn bị nhưng không phát biểu. Nghiên cứu này cũng cho ra đời 4 cống bằng 2 loại chất kết dính nêu trên và sau đó có viết 1 bài báo đăng ở tạp chí Thủy Lợi. Không biết có nơi nào quan tâm áp dụng không. Đề tài này cũng được báo cáo ở hội nghị khoa học của trường ta được tổ chức 2 năm một lần.

(6) Anh Hỷ sau khi tốt nghiệm PTS ở B Lan về nước được điều động tham gia sửa chữa đập đáy đã áp dụng loại bê tông không cát (chỉ có đá hay sỏi trộn với xi măng) để làm sân tiêu năng. Bê tông này có độ rỗng lớn, nước thoát qua bê tông dễ dàng những không biết bê tông này bền được bao lâu. Loại bê tông này được viết trong quyển sách “Tuyển tập về bê tông” bằng tiếng Ba Lan do anh Hỷ mang về. Tôi có dịch một phần làm tư liệu tham khảo. Biết tiếng Anh, Pháp, Nga có thể đọc hiểu được nội dung cơ bản của tài liệu.

(7) Nghiên cứu dùng bãi sỏi tự nhiên (không qua sàng phân loại) để trộn bê tông. Anh Nguyễn Đông làm giám đốc công ty xây dựng Thủy Lợi 1 được chỉ đạo thi công hồ Núi Cốc (Thái Nguyên). Anh nhờ bộ môn nghiên cứu để sử dụng trực tiếp cốt liệu ở bãi sỏi bằng cách cải thiện thành phần hạt để đạt cấp phôi hạt yêu cầu mà không cần phải sàng. Bộ môn đã cử người lên khảo sát thành phần hạt của sỏi đã khai thác ở độ sâu nhất định, kiểm tra thành phần hạt. Cỡ hạt nào thiếu thì thêm đá dăm cỡ hạt đó để cuối cùng đạt thành phần hạt yêu cầu trong tiêu chuẩn. Công trường đã áp dụng kết quả nghiên cứu này để chế tạo bê tông cho các đập của công trình Núi Cốc. Đề tài không được tài trợ gì, chỉ lấy tiền công tác đi lại của trường mà thôi. Kết quả nghiên cứu được báo cáo ở hội nghị khoa học của trường và đăng báo Thủy Lợi. Sau đó khoảng nửa năm tôi nhận được thư của anh Luận (sinh viên khóa 3 của trường) làm trưởng phòng kỹ thuật của Ty Thủy Lợi Hà Giang và anh Lệnh là trưởng ty đề là sinh viên khóa 3 do tôi dạy đã đọc bài báo và muốn áp dụng phương pháp này để xây một cái cống. Các anh mời tôi lên, tôi định đi nhưng sau đó bị sưng tay, nên đề nghị anh Minh à anh Hỷ đi thay mang theo bộ sàng đá để thí nghiệm. Đề tài này đã đạt kết quả. Kinh phí đi công tác do trường cấp, còn không rõ ty Hà Giang có bồi dưỡng cho 2 anh không hay chỉ làm việc không công như ở hồ Núi Cốc thôi.

(8) Sử dụng cát trắng ở Hà Bắc để thí nghiệm mác xi măng thay cát tiêu chuẩn Quảng Bình. Tôi hướng dẫn tốt nghiệp một sinh viên hàm thụ (Anh Đẩu trưởng phòng Nông nghiệp thủy lợi ở huyện Lạng Giang, hà Bắc và là lớp trưởng). Khi lựa chọn đề tài tôi hỏi ở vùng anh có vật liệu gì đăc biệt không, anh nói có loại cát trắng như cát biển và có lấy mẫu về cho tôi xem. Đúng là loại cát trắng có lẫn một số hạt đen. Tôi chọn đề tài dùng loại cát này thay cát Quảng Bình để thí nghiệm xi măng, vì cát tiêu chuẩn Quảng Bình rất hiếm và đắt, ở phòng thí nghiệm LXD không mua bao giờ.

Tôi đề nghị anh Đẩu đào sâu xuống 50cm ở ài địa điểm rồi trộn đều và mang về khoảng 10kg để thí nghiệm. tối xin được ít cát tiêu chuẩn Quảng Bình ở viện NCTL để thí nghiệm so sánh. Độ lớn của hạt tiêu chuẩn là từ 0,5-1mm. nên phải sàng cát Hà Bắc lấy cỡ hạt như vậy và gạt bỏ các hạt đen, nên 2 loại cát trông tương tự nhau. So sánh kết quả thí nghiệm tháy không có chênh lệch nhiều, cần có một hệ số nhỏ để chuyển đổi kết quả khá chụm. Tôi nghĩ có thể sử dụng cát Hà Bắc thay thế cát tiêu chuẩn nên đã viết một bài bài giới thiệu kết quả này và Đẩu đã viết đồ án tốt nghiệp đạt kết quả tốt.

(9) Nghiên cứu xỉ gang thép Thái Nguyên làm phụ gia cho bê tông và xi măng. Anh Tín (trưởng phòng VLXD viện nghiên cứu thủy lợi) đề nghị tôi tham gia hướng dẫn 2 sinh viên khoa VLXD ở ĐHXD làm đồ án tốt nghiệp với đề tài trên. Chúng tôi cho sinh viên lên lấy xỉ hoạt hóa (xỉ qua lò được dội nước để nguội nhanh). Kết quả là xác định được xỉ đó là xỉ axit (ít vôi). Sau đó xỉ được nghiền mịn trong máng nghiền của viện và pha nhiều tỉ lệ vào xi măng rồi thí nghiệm các tính chất của xi măng để xác định khoảng tỉ lệ thích hợp. Nghiên cứu được tiến hành bài bản và đạt kết quả tốt. Sinh viên đã bảo vệ đồ án tốt nghiệp đạt điểm xuất sắc. Tôi và anh Tín có được mời lên trường ĐHXD ở Hương Canh tham dự hội đồng chấm tốt nghiệp. Anh Tín bận đề nghị tôi đi dự và cũng được khoản bồi dưỡng ít ỏi của trường. Kết quả nghiên cứu cũng được đăng trên tạp chí nhưng không được quan tâm sử dụng. Có lần gặp anh Lam sinh viên khóa 1 ĐHBK khoa hóa làm phó giám đốc nhà máy xi măng Hải Phòng tôi hỏi vì sao không dùng xỉ, Anh Lan cho biết lý do như sau: dùng xỉ đã ngậm nước, nhà máy không có phân xưởng sấy khô, mặt khác lấy xỉ từ Thái Nguyên về Hải Phòng, kinh phí vận chuyển cao nên bất lợi. Nhà máy lúc đó dùng phụ gia đất pháp cổ ở Thủy Nguyên Hải Phòng vừa rẻ vừa thuận lợi hơn nhiều. Trước đó vào khoảng năm 1960 viện hóa học thuộc bộ công nghiệp cũng đã nghiên cứu về xỉ Thái Nguyên. Tôi có đi họp hội nghị thông báo kết quả nghiên cứu đề tài này, trong đó có phân tích thành phần hóa học của xỉ. Tôi cung cấp cho sinh viên chứ viện nghiên cứu không có nguồn kinh phí để làm các thí nghiệm này, vì đề tài nghiên cứu của sinh viên không nằm trong kế hoạch nghiên cứu của viện NCTL.

(10) Chế tạo nhũ tương bitum cùng với tổ hóa. Tôi đi họp ở ĐHGT ở Hội nghị khoa học cảu trường có một báo cáo của tổ hóa về sản xuất nhũ tương bitum 2 thành phần gồm bitum và chất độn là dất sét hoặc vôi. Khi đi hướng dẫn sinh viên khóa 2 thực tập ở Tiền Hải, Thái Bình (Cống Lân) năm 1963 tôi thấy họ náu chảy bitum để quét trên mặt bê tông để chống thấm. việc làm đó cũng vất vả vì thi công vào mùa rét nhựa bị nguội nhanh khó quét. Nếu dùng nhữ tương bitum thì không phải nấu chảy sẽ thuận lợi hơn. Tôi bàn với anh Cảnh giáo viên tổ hóa chuẩn bị nguyên vật liệu và chế tạo được 2 loại nhũ tương này, nhờ phòng hóa có máy khuấy, bếp điện. Tất nhiên làm ở quy mô nhỏ. Nếu ứng dụng thì phải có công nghệ quy mô lớn hơn. Đề tài cũng chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm chẳng biết ứng dụng ở nơi nào.

(11) Nghiên cứu ăn mòn thép. Ở phòng thí nghiệm có thiết bị xác định điện trở của sợi thép. Tôi có bàn với anh Mỹ tổ trưởng tổ lý cùng nghiên cứu ăn mòn thép trong môi trường nước biển. Đúc mẫu bê tông hạt nhỏ hình dầm trong đó đặt mấy sợi thép đã đo đường kính và điện trở trước, sau đó ngâm vào nước biển giả định. Từng thời gian (hàng tháng) đo điện trở của thép. Lúc đầu và về sau, thời gian kéo dài hàng năm. Qua điện trở biết được thép đã bị gỉ đến mức nào và đường kính théo còn lại là bao nhiêu. Đề tài tự nghĩ chứ không làm theo tài liệu nào. Trước đây tôi dịch cho Bộ Thủy lợi tài liệu ăn mòn bê tông bằng tiếng trung, nay lại làm thí nghiệm ăn mòn thép nên tôi đẫ chọn đề tài NCS là ăn mòn bê tông cốt thép trong môi trường xâm thực vi minh ở ngành thủy lợi. Đây cngx là đề tài hay và thiết thực với chuyên môn VLXD. Nhưng sau khi trình bày với thầy hướng dẫn, thầy cũng đồng ý thôi, nhưng bảo đề tài này phải gửi tôi ra viện nghiên cứ bê tông cốt thép để làm thí nghiệm. Tôi nghĩ mình là người nước ngoài, là NCS của trường lại đi nơi khác làm thì phức tạp quá, nên xin thầy một đề tài khác để có thể làm ngay ở phòng thí nghiệm của trường. Tất nhiên phải đổi đề tài.

(12) Đánh giá chất lượng đá dăm chứa nhiều bột đá ở công trường xây dựng nhà lắp ghép ở khu Trung Tự và Khương Thượng. Sau khi ở Liên Xô về tôi có sang thăm quan công trường xây dựng nhà ở Khương Thượng. Tôi có gặp bác Tùng là giám đốc công ty xây dựng nhà số 1 Hà Nội và bác Măng là phó giám đốc (sau này bác Tùng là phó giám đốc sở xây dựng Hà Nội). Tôi cũng gặp kỹ sư trưởng của sở xay dựng là anh Long. Quan trao đổi thấy có một vấn đề nan giải cần được giải quyết. đó là đá dăm vôi lấy từ Hà Nam về lẫn rất nhiều bột mịn (bột màu xám) khi mưa chất bột này nhão ra như bùn đen. Sở không chấp nhạn loại bột đá này, nhưng đã mua về đổ thành một đống rất lớn. Tôi bảo họ để tôi nghiên cứu và sẽ có kết luận. Tôi biết rằng đá dăm vôi (mua ở mỏ đá Hà Nam) và đây là bột đám chứ không phải bùn đất. Khi làm NCS ở Liên Xô tôi đọc được giáo trình chất kết dính của bộ môn công nghệ bê tông của trường ĐH Mạc tư khoa, trong đó có viết bột đá pha vào xi măng phản ứng hóa học tạo thành hợp chất Ca(OH)2. 3CaO, nên có thể dùng bột đá làm phụ gia khoáng cho xi măng. Như vậy đã rõ tác động của bột đá trong bê tông. Nhưng phải kiểm tra hàm lượng bột đá lẫn trong đá vôi mới đưa về và xác định hàm lượng bột trong đá dăm rồi tính hàm lượng bột đá lẫn trong xi măng nằm trong bê tông. Mặt khác phải đánh giá chất bột đó có phải 100% là bột đá vôi không hay có lẫn một phân đất. Tôi đề nghị tổ hóa (anh Mẫn tổ trưởng) ngâm mẫu bột trong axit clohydric để hòa tan đá vôi sau đó lọc cặn xem có tạp chất lẫn vào không. Kết quả cho thấy là lượng bột chỉ bằng 5% hàm lượng xi măng trong bê tông và bột đá vôi không lẫn tạp chất. Tôi đã viết báo cáo gửi cho công ty xây dựng số 1 và kỹ sư trưởng, tôi và anh Mẫn ký tên. Tôi là phó tiến sĩ VLXD thuộc loại đầu tiên và anh Mẫn là tổ trưởng tổ Hóa của trường đại học nên họ tin tưởng và chấp nhận không phải rửa đá. Đây là đề tài không có hợp đồng nên không lấy dấu à chữ ký của ban giám hiệu. Chúng tôi không được bồi dưỡng gifm nhưng sau này công ty ký hợp đồng thí nghiệm đưa tất cả các mẫu bê tông đúc kiểm tra về cường độ về trường. Phòng thí nghiệm có việc thường xuyên. Nhưng kinh phí thí nghiệm thì gửi về trường, anh em không được bồi dưỡng gì cả, nhưng cũng vui vì được phục vụ sản xuất.

(13) Nghiên cứu chất bôi khuôn bằng hỗn hợp đất sét+ vôi + dầu thải. Vào những năm 70, 89 của thế kỷ trước, chất bôi khuôn chống dính trong sản xất cấu kiện bê tông rất khó khăn. Các công trường xây dựng học đúc chồng tấm nọ trên tấm kia phải dùng đất sét để bôi khuôn và trát lên mặt tấm dới để chống dính, sau này bề mặt các tấm có một lớp đất sét dày phải cọ bỏ trước khi đưa đi lắp ráp để sau này mặt bê tông có thể bám dính với vữa, ên khá phức tạp và mất nhiều công sức. Cả nhà máy bê tông dùng dầu thải để chống dính nhưng mặt bê tông bị đen và cũng kém dính với lớp vữa trát ngoài, ngoài ra nguồn dầu thải rất hiếm và ít… Tôi đã nghiên cứu hỗn hợp đất sét+ vôi + dầu thải để làm chất chống dính để khắc phục nhược điểm của các loại chất chống dính nêu trên. Tôi tìm được đất sét sau gò Đống Đa màu xám nhạt giống màu xi măng để tạo ra chất chống dinh. Chất chống dính này bám trên bề mặt bê tông không dày và màu sắc giống bê tông. Nếu không trát vữa thì mặt bê tông vẫn không đổi màu khác. Sau khi thí nghiệm trong phòng, tôi đã ký hợp đồng với 2 nhà máy bê tông: bê tông Thịnh Liệt (Hà Nôi) và bê tông Hải Dương. Số tiền không nhiều, nhưng cũng là nguồn động viên nhỏ nhoi và cũng để lại cho gia đình ít tiền tước khi tôi đi Algieri. Việc này cũng có liên quan đến luận án tiến sĩ của cô Lan

(14) Nghiên cứu đề tài luận án của cô Lan: Việc cô Lan làm được luận án tiến sĩ cũng là một hiện tượng đặc biệt trong bộ môn VLXD. Cô Lan là PTS bảo vệ trong nước xếp thứ 5 thứ 6 của ngành VLXD nhưng là nữ PTS đầu tiên ở nước ta, còn đối với trường ĐH Thủy Lợi cô Lan là PTS trong nước thứ 4 sau bác Khang, bác Khúc và anh Đồng (thủy văn). Viện nghiên cứu Thủy Lợi, anh Tín trưởng phòng VLXD làm đề tài benit 1 và benit 2 làm phụ gia chống thấm cho bê tông công trình thủy lợi từ đất bentonit, loại đất sét rất mịn lấy ở Cổ Đinh Thanh Hóa (lớp bentonit được bóc ỏ để khai thác quặng crom). Benit 1 là bentonit lấy về phơi sấy khô, rồi nghiền mịn bằng máy nghiền quả lăn ở một cơ sở gần Văn Điển của vợ anh Giang rồi đóng bao. Còn benit 2 có thêm phụ gia dịch kiềm đen của nhà máy giấy. Cô Lan dùng đất sét Đống Đa tôi lấy về để thay bentonit. Tôi nói qua về loại đất sét này. Tôi có cháu làm bảo vệ ở nhà máy xe đạp Thống Nhất, có lần qua thăm cháu thấy ở cổng co một đống đất sét màu xám xi măng. Cháu cho biết nhà má dùng đất này để làm khuôn đúc một số chi tiết của xe đạp. Tôi đèo một bao tải về để thí nghiệm chất chống dính. Chỉ dùng hết một phần, còn lại một đống và cô Lan đã dùng đất sét này để nghiên cứu đề tài LA. Về kết quả nghiên cứu cũng có tác dụng chống thấm giống benit của anh Tín, tất nhiên có yếu hơn nhưng nguyên liệu dễ kiếm và có điểm mới là xác định được hàm lượng tối ưu. Lúc đó có anh Đào Đạt cán bộ viện NCTL ở Liên Xô về nghiên cứu tỉ lệ tối ưu của phụ gia trong bê tông bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm. Lúc ở ta chưa ai biết và sử dụng phương pháp này. Anh Đạt cùng gốc với cô Lan (Nghệ Tĩnh) đã giúp cô xác định được thành phần tối ưu cho phụ gia chống thấm từ đất sét và cô đã bảo vệ thành công luận án. Trong thời gian cô Lan làm luận án, tôi công tác ở Algieri, nhưng khi tôi về phép lại được dự buổi bảo vệ của cô Lan. Hội đồng bảo vệ toàn là bạn và học trò tôi cả. Sự có mặt của tôi họ có thể hiểu là tôi cũng giúp đỡ cô Lan một phần nào đó, nên cũng thuận lợi cho cô Lan bảo vệ. Nói chung là suôn sẻ cả. Anh Chín có nói với tôi nếu ai chống đối thì tôi bảo vệ. Nhưng sao tôi lại làm chuyện đó được, các ủy viên hội đồng họ có chính kiến riêng của họ. Tôi là người đến dự thôi. Cô Lan lúc đó đã 54 tuổi. Năm sau có xin đăng ký PGS, nhưng thiếu mấy phiếu nên phải về hưu ngay cũng đáng tiếc. Sau khi cô Lan bảo vệ thì tổ VLXD có 3 phó tiến sĩ và tổng đó có 1 tiến sĩ khoa học trong số 5 giáo viên. Như vậy tỉ lệ về học vị cao nhất trường khi đó.

(15) Việc cải tiến đầm mặt thành bàn rung bê tông trong phòng thí nghiệm cũng có thể là đề tài nghiên cứu. Tổ ta đã phối hợp với xưởng cơ khí (anh Viễn) để làm đề tài. Đề tài này rất có ý nghĩa đối với phòng thí nghiệm VLXD lúc bấy giờ. Tôi không biết có nơi nào áp dụng không, vì có đăng trên báo và tạp chí Thủy Lợi.

(16) Tổ môn cũng có một số đề tài hướng dẫn sinh viên tốt nghiệp. Có cậu Trần Văn Từ, sinh viên lớp 14T của trường ta nghiên cứu đề tài VLXD làm đồ án tốt nghiệp. Cậu ta tự chọn đề tài xác định hệ số dư vữa trong thiết kế thành phần bê tông. Từ có khả năng tư duy tốt nên đã hoàn thành tốt đề tài này, nhưng không có điều kiện vận dụng vào thực tế. Ra trường Từ và vợ được phân công về ủy ban vật lý địa cầu thuộc viện KHVN (nay là viện hàn lâm Khoa học). Từ bảo vệ luận án PTS ở trường ta do anh Cao Văn Chí hướng dẫn, sau được đi thực tập cấp 2 ở ba lan nhưng không làm được tiến sĩ khoa học.

(17) Trường đại học xây dựng gửi 4 sinh viên ngành VLXD về trường ta làm đồ án tốt nghiệp. Có lẽ anh Quý lúc đó là chủ nhiệm khoa VLXD muốn nhờ 4 giáo viên vật liệu ĐHTL vì có quan hệ với tôi và anh Hỷ (anh Quý là PTS ở Ba Lan cùng thời với anh Hỷ và 2 người đều cùng đi một đợt lại cùng làm đề tài về ăn mòn bê tông trong môi trường biển) Tổ môn nhận 4 người: tôi hướng dẫn cậu Thiết, anh Hỷ hướng dẫn cậu Dần còn 2 người tôi không nhớ. Các đề tài do thầy quyết định. Tôi cũng không nhớ các đề tài này. 4 chúng tôi cũng được mời lên Hương Canh tham gia hội đồng chấm 4 sinh viên và các sinh viên khác cũng làm đề tài tốt nghiệp có tính chất nghiên cứu khoa học. Trường ĐHXD phải mời ĐHK lên Hương Canh sống trên một quả đồi toàn nhà lá rất giống như khi đi sơ tán ở trường ta với mục đích tham gia xây dựng thủ đô mới ở Xuân Hòa. Trường bị ném bom 1 lần, vợ và các con bác Dạn hiệu trưởng bị chết, về sau Xuân Hòa không có kế hoạch xây dựng thủ đô mới nữa, bác Dạn đấu tranh trở về Hà Nội được chia 1 phần đất của trường ĐHBK còn các trường mỏ… không được trở lại Bách Khoa nữa. Trường đánh giá công lao của bác Dạn rất lớn nên đã tạc tượng ở sân trường để mọi người chiêm ngưỡng và tưởng nhớ người hiệu trưởng đầu tiên của trường ĐHXD.

(18) Tôi tham gia giảng lớp cho lớp sau ĐH của trường Thủy Lợi. Theo kế hoạch thì chỉ học một số môn để nâng cao trình độ. Nhưng anh Tôn ở cục kiến thiết cơ bản của bộ thủy lợi đề nghị tôi hướng dẫn làm đề tài. Tôi cho anh làm đề tài kiểm tra lại các hệ số của công thức cường độ Rb=0,5Rx(X/N-0,5) xem có phù hợp với điều kiện Việt Nam không. Nhà máy bê tông Chèm là 1 trong 3 nhà máy bê tông đầu tiên do Trung Quốc giúp đỡ có rất nhiều tài liệu về cường độ bê tông. Tôi quen anh Noãn giám đốc và anh Phùng là trưởng phòng thí nghiệm nên được cung cấp tất cả các số liệu của nhà máy được ghi trong mấy cuốn sổ dày. Tôi đã sao chép được tất cả số liệu về Rx và Rb, nên đã tổng hợp lại và xác định lại các hệ số của công thức Bolomay-Skramtaev trong điều kiện khí hậu Việt Nam. Tôi cũng viết một bản báo cáo gồm đủ các chương mục của một bài luận văn thạc sĩ có phần tổng quan, bảng biểu đồ thị giống như đồ thị của giáo sư Viện sĩ Xkramtaev đã làm và có phần kết luận cùng với bảng tài liệu tham khảo. Bản báo cáo đó được bảo vệ ở một hội đồng nhưng lúc đó chưa có chuyện đào tạo thạc sĩ, chỉ có chương trình bồi dưỡng sau đại học. Khi tôi đã về hưu, hệ thạc sĩ mới mở ta, tôi đề nghị với anh Bảo cấp cho Tôn bằng Thạc sĩ, nhưng không được. Anh cũng giải thích cho tôi bằng thạc sĩ quy định phải học nhiều môn có thi có điểm sau đó mới được làm luận văn nên tôi lại hiểu là mình chỉ tương đương với thạc sĩ thôi. Chứ không thể cấp bằng được. Mặc dù báo cáo khoa học của Tôn xứng đang là 1 luận văn thạc sĩ, đấy là 1 trường hợp đặc biệt ở trường ta không có trường hợp nào như vậy.

(19) Tôi có đăng ký được một đề tài cấp bộ “thí nghiệm ở hiện trường bằng các thiết bị đơn giản”. Do đọc một số tài liệu nước ngoài, tôi dựa vào đó để chế tạo một số dụng cụ đơn giản như sau:

- Thí nghiệm cường độ bê tông bằng búa xung kích rơi tự do, tận dụng búa xung kích thanh lý của phòng vật lý (búa sản xuất ở Trng Quốc, quả búa nặng khoảng 500g trượt trên 2 thanh thẳng đứng khắc độ, đươc gắn thêm viên bi thép). Tài liệu Liên Xô giới thiệu phương pháp đập búa đầu gắn viên bi thép có cán lên mặt bê tông rồi đo chiều sâu hoặc đường kính vết lõm để suy ra cường độ từ một đường quạn hệ Rb – chiều sâu hoặc đường kính vết lõm đã xác định trước. Tôi cho búa rơi trên mặt bê tông nằm ngang từ độ cao 60cm và cũng xác định được đường quan hệ như vậy. Dụng cụ này đã được đưa ra thí nghiệm các dầm bê tông của công trường mở rộng nhà máy cơ khí Trung quy mô ở Cầu Mới (Ngã Tư Sở) theo yêu cầu của công trường.

- Thí nghiệm độ chảy của vữa bằng côn sụt mini, đường kính miện trên 4cm, đáy 6cm, cao 10cm. Đo theo kiểu độ sụt bê tông. Tôi lấy đường quan hệ độ sụt của vữa với độ cắm trùng. Ngoài ra tôi cũng nghiên cứu dùng quả trùy có vạch khắc trên mặt nghiêng cho trượt qua một bóng cầm tay mà không cần giá đứng, mang đi công trường rất gọn. Các dụng cụ này được áp dụng ở công trường xây dựng, kênh máng Bình Sơn (Phan Rang). Quả trùy đo được cả độ chảy của bê tông thay côn sụt

- Tôi mua một cân xách tay rất nhỏ có thể cân được 10kg, đem đi công trường rất tiện. Tôi cũng chuẩn bị một bộ thước sắt, thước kẹp để đo kích thước mẫu, cỡ hạt cốt liệu lớn. Cấp phối cát thì ước lượng bằng mắt mẫu cát dàn trên tay theo kinh nghiệm được viết trong một quyển sách về địa chất. Thí nghiệm xi măng thì chỉ cần máy cắm kim vicat và tấm kính có các vòng tròn vẽ trên giấy dán dưới tấm kính, còn mác xi măng thì dựa vào thông tin của nhà máy. Như vậy về cơ bản chúng ta có được bộ dụng cụ để thí nghiệm xi măng, cốt liệu và bê tông ở hiện trường. Đó là đề tài cấp bộ duy nhất mà tổ ta đăng ký được.

Khi tôi đi NCS về tổ VLXD không ai nghiên cứu đề tài nào chỉ giảng dạy đơn thuần. Tôi nghĩ ra một số đề tài nhỏ để người nào cũng nghiên cứu. 3 đề tài giao cho 3 người tôi không nhớ hết chỉ nhớ đề tài của anh Minh là xác định sai số quân phương và hệ số sai biến của phương pháp xác định cường dộ nén (Mác) của xi măng theo phương pháp vữa khô. Sau khi có kết quả tổ chức một hội thảo nhỏ có mời cả bác Thâu hiệu trưởng dự họp. Họp xong bác Thâu không có ý kiến gì mà đi quanh phòng thí nghiệm, quyệt tay vào từng thiết bị thấy ít bụi ở tay, bác phê bình phòng thí nghiệm vệ sinh không tốt, mặc dù trước khi họp tổ đã làm vệ sinh sạch sẽ rồi.

Đó là vấn đề nghiên cứu, còn việc phục vụ sản xuất, tổ VLXD cũng làm được 1 số việc ngoài một số áp dụng của một số kết quả nghiên cứu. Anh Hỷ đi tham gia sửa chữa đập Đáy vào năm 1973. Tôi đi tham gia chống lụt 4 lần, thường là trưởng đoàn hoặc phó đoàn cùng với sinh viên một lớp và có cả giáo viên. Tôi không chuyên môn thủy lợi nhưng có mác Phó tiến sĩ nên được cử đi nhiều lần. Tôi phải đọc kỹ các tài liệu về đắp đê chống lụt của bộ để thực hành, nhưng cũng may không xảy ra sự cố gì.

Sau thời gian đi chiến dịch cho ủy ban quốc tế về thì có việc xây dựng công trình hồ thủy lợi Dầu Tiếng (ở Tay Ninh) bộ nhập máy móc thiết bị hiện đại của Nhật. Họ đưa máy móc và cử chuyên gia sang giảng dạy hướng dẫn sử dụng máy. Tôi được điều làm phiên dịch cho một lớp giảng lý thuyết. Họ không đưa tài liệu trước chỉ giảng ở trên lớp, tôi phải dịch trực tiếp ngay. Việc giao tiếp thì không có gì khó khăn nhưng dịch trực tiếp thật khó vì có những từ kỹ thuật về cơ khí và điện, về điện tử mình không biết dịch ra tiếng việt như thế nào. Phải hỏi học viên có ai biết tên bộ phận đó không. Công việc thật là vất vả, còn ăn uống sinh hoạt thì cực kỳ khó khăn: bữa ăn 3 không, không thịt cá, không dầu mỡ, không nước mắm chỉ có miến cá khô và đu đủ kho muối. Buổi tối ở công trường ầm ĩ không ngủ được, tôi phải sang ngủ nhờ bên ban kiến thiết nhờ học trò là phó ban. Làm việc đến 28 tết mới được nghỉ. Tôi về Sài Gòn không mua được vé máy bay, phải nhờ cậy, chạy vạy mới ra ngày 30 tết mới về đến Hà Nội để ăn tết với gia đình. Chuyến công tác này không dược bồi dưỡng gì. Sau khi tôi bảo vệ tiến sĩ về thì công trình thủy điện Trị An đang được xây dựng. Tổng công ty xây dựng thủy lợi ở thành phố Hồ Chí Minh phụ trách thi công. Tổng giám đốc công ty là trưởng ban chỉ huy công trường, anh Hồng là hiệu phó trường ta được điều động làm phó ban chỉ huy phụ trách kỹ thuật. Công việc chính là xây dựng đập tràn bằng bê tông. Bê tông dùng xi măng pooc lăng Hà Tĩnh pha 10% phụ gia Mu Rùa (Bà Rịa Vũng Tàu) thiết kế thành phần bê tông do phòng vật liệu xây dựng của phân viện nghiên cứu thủy lợi miền Nam thực hiện. Đập bị nứt, một vấn đề nghiêm trọng cần nghiên cứu khắc phục. Bộ điều động tôi cùng với anh Tín và anh Minh (PTS mới về nước là giáo viên chuyển từ trường xây dựng vừa học vừa làm được sáp nhập vào ĐHXD) cùng vào để nghiên cứu giải quyết vấn đề này, Ngoài ra phòng thí nghiệm công trường thuộc công ty xây dựng 4 cũng yếu kém. Có một đoàn chuyên gia Liên Xô sang chỉ đạo vì đây là công trình do Liên Xô giúp đỡ (sa Thác bà và Hòa Bình). Chuyên gia LX cũng không giải quyết được vấn đề này vì không rõ nguyên nhân. Bộ điều chúng tôi vào giúp đỡ 2 việc: khắc phục hiện tượng nứt và củng cố phòng thí nghiệm. Ở công trường có 1 trạm trộn bê tông lớn, rồi dùng xe bê tông đưa ra công trường. Anh Tính và Minh nghiên cứu nguyên nhân vết nứt, còn tôi giúp đỡ phòng thí nghiệm và quan hệ với chuyên gia Liên Xô. Lúc mới vào ban chỉ huy công trường cũng họp với các chuyên gia giới thiệu bọn tôi, giới thiệu tôi là TSKH của LX, nên họ cũng nể. Có một lần cậu Bột là SV Thủy lợi khóa 17T làm giám đốc trạm trộn cho chở 7 xe ô tô bê tông ra công trường để đổ. Mỗi xe là 7m3. Do độ sụt không đạt, chuyên gia LX bắt trả về. Đã có những lần bị như thế nên bê tông về đổ xung quanh trạm trộn thành một sân bê tông lớn. Mỗi m3 bê tông lúc đó là 1 triệu đồng. Cậu ta lo lắng chạy đến gọi tôi ra công trường để giải thích với chuyên gia LX cho phép đổ. Tôi ra ngay gặp chuyên gia thi công đề nghị ông ta cho đổ và đề nghị tăng cường đầm nhiều hơn bình thường thì bê tông vẫn đạt độ chặt. Tôi nói với ông ta là trạm trộn hạch toán mỗi m3 bê tông là 1 triệu đồng, nếu bỏ đi vừa phí và trạm trộn sẽ bị lỗ vốn. Ông ta nể tôi và cho phép đổ bê tông đỡ được phí tổn 40 triệu đồng. Kết quả nghiên cứu nứt là do nhiệt thủy hóa của bê tông quá lớn, vì trộn có 10% phụ gia thì vẫn là xi măng pooc lăng thường. Đoàn đề nghị tăng phụ gia Mu Rùa lên 20% để được XM pooc lăng hỗn hợp. Sau đó không bị nứt nữa. Chuyến đi kéo dài khoảng 3 tháng, cũng chẳng được phụ cấp gì chỉ được công trường nuôi ăn. Có một lần nữa tôi được điều vào đoàn DH2 ở Ninh Thuận do anh Bướm làm giám đốc. Phan Đình Thanh là cháu ông Lê Đức Thọ làm TSKH ở Đức xin chuyển từ trường ĐHGTVT (có vấn đề gì đó) về trường ta. Bộ trưởng Dinh giới thiệu với anh Bảo và yêu cầu nhận. Thanh là nhân vật đặc biệt, chân bị thọt nhưng mánh khóe thì có đầy. Bản thân không giảng dạy mà chuyên môn đi nhận công trình để kiếm trác. Thanh luôn mang theo giấy giới thiệu của ông Thọ là bác ruột (trưởng ban tổ chức trung ương) và bằng tiến sĩ khoa học để đi xin việc ở các tỉnh. Thanh cùng Bướm xin được làm kênh máng Bình Sơn ở Ninh Thuận dài 3Km trên dải đất cát bằng xi măng lưới thép là tủ của Thanh. Đến khi chuẩn bị làm thì Thanh yêu cầu làm chủ nhiệm đề tài, chỉ nhờ vào dấu má của DH2 thôi. Bướm làm ăn ở trong đó quan hệ nhiều và đã làm nhiều công trình cho địa phương rồi nên không chịu như vậy mà coi công trình này là của trường Dh2, Thanh chỉ là chuyên gia. Chuyện cãi cọ căng lắm đến mức độ 2 người phải nói với nhau: Trên đề tài này và trong công việc thì việc có Thanh thì không có Bướm và ngược lại. Vấn đề là kinh tế: Thanh muốn ăn cả chỉ chi một phần cho con dấu DH2 thôi. Tất nhiên là Bướm không chịu. Chuyện đã thống nhất với địa phương bỏ thì đáng tiếc và mất uy tín của trường nên anh Bảo phải đứng ra giải quyết. Trường cử anh Lê Thiện Hồng (tổ kết cấu công trình) thiết kế, anh Toán và tôi vào thi công. Tôi cũng là tiến sĩ KH đối lại với Thanh. Tôi công tác ở Phan Rang đến 5 tháng vào mà hè là nóng rẫy và thường xuyên làm việc trên bãi cát. Anh Hồng không có kinh nghiệm chỉ thiết kế từng đốt cống đặt trên trụ đỡ nhưng không tính đến các gioăng cao su ở giữa các đốt cống để chống thấm. Khi thi công thì có chỗ 2 đốt cống cách nhau không đều có chỗ khá rộng. Tôi lo chuyện chế tạo vữa xi măng lưới thép và khó khăn nhất là lấy gì để chít các khe nơi các đốt cống và chèn thế nào cho khít. Tôi đề nghị mua nhựa đường về rồi nấu chảy rồi trộn với một loại sợi nào đó ở đây. Chẳng có sợi nào cả đành phải lấy rơm cắt đoạn trộn nhựa rồi dùng thanh tre và bay nhét kẽ. Có chỗ kẽ rộng phải chét chất độn này rất nhiều. Tôi lo trời nắng nóng ở Phan Rang không biết nhựa có chảy không và việc thấm nước có đảm bảo không. Nếu bị hở thì sẽ mất nước. Do bê tông dãn nở nên không dùng vữa xi măng được vữa sẽ bị nứt hở khe ngay. Kênh máng này chỉ tồn tại một thời gian vì quyết định không trồng hành tỏi trên cát như ở Lý Sơn nữa mà biến thành khu đô thị bên cạnh bãi biển Bình Sơn bây giờ. Tôi làm việc ở Bình Sơn khoảng 5 tháng khá vất vả, vì phục vụ sản xuất tại công trường suốt ngày. Trong thời gian tôi đi Algeri anh Minh cũng có một thời gian vào DH2 đi thi công một công trình thủy lợi do DH2 ký với địa phương. Minh là thầy giáo VLXD của Bướm, và đồng hương cứ Nghệ nên việc vào tham gia với Bướm cũng dễ dàng thôi. Có một hôm Minh đi xe máy đâm xuống ruộng bị đứt mạch máu não và được đưa về bệnh viện ở TP Hồ Chí Minh cấp cứu trong ngày, nếu chậm sẽ tử vong. Anh Minh vẫn nói thần chết đã bỏ qua cho anh lần đó. Thời gian đó bộ có chủ trương tất cả các công trình ở địa phương và TW đều phải có kết quả kiểm tra siêu âm trong hồ sơ nghiệm thu. Vì vậy việc siêu âm công trình được tiến hành khá sôi nổi. Anh Hỷ, Minh nhận được thường xuyên đề tài này và đi làm luôn. Anh Hỷ lúc đó là tổ trưởng có năm chỉ nhận dạy 2 lớp hàm thụ, mỗi lớp lên lớp 15 tiết. Anh Hỷ có việc thì kéo Minh đi theo và 2 người có quan hệ cậu cháu hờ (vợ Hỷ là con riêng của anh rể Minh) và 2 người ở cùng quê. Sau khi làm công trình về họ đều tổ chức một buổi chiêu đãi nhỏ bộ môn. Họ nói chúng tôi ra cửa hàng của anh Phương (bố của Dũng) ở sát phòng thường trực của trường, giờ nhô một phần ra ngoài vườn hoa. Ăn vài ba món với một cốc bia hơi để mừng anh Hỷ (Minh) kết thúc một hợp đồng siêu âm. Tổ thi công và kết cấu công trình thỉnh thoảng cũng ký được hợp đồng siêu âm. Ngay cả phòng VLXD viện nghiên cứu thủy lợi cũng có một số hợp đồng nhưng cũng không nhiều. Vua siêu âm bên trường (Đào Đạt, trưởng phòng) là Hỷ và bên viện là Đào Đạt. Sở dĩ Hỷ ký được nhiều hợp đồng có lẽ là có hỗ trợ của Hồng, thủ trưởng chỉ đạo thi công các công trình thủy lợi. Anh Nam tổ thủy điện có đề nghị tôi làm siêu âm cho công trình của anh thiết kế, tôi chuyển cho Hỷ, Minh làm vì tôi làm gì có máy đó. Tôi cũng không rõ máy này trường mới mua của Liên Xô, chứ máy cũ của Ba Lan thì hỏng rồi, không được sử dụng đến 1 lần. Về sau bộ thấy công trình nào siêu âm cũng tốt cả, ngay cả những công trình kém chất lượng nên bộ đã đình chỉ việc siêu âm một số anh em ta đã ăn đủ. Còn Oanh cũng hoạt động mạnh lắm. Lúc đầu thầu làm hàng rào sân bóng của trường sau đó đi thầu làm đường làng ngõ xóm ở các địa phương lân cận Hà Nội cũng kiếm được nhiều tiền, để làm nhà làm cửa. Chỉ có cô Lan không tham gia việc gì chỉ đơn giản dạy học.

Việc tham gia vào các hội đồng khoa học và hội thảo tổ môn cũng làm được nhiều. Thời gian đầu những năm 60,70 của thế kỷ trước đề tài khoa học rất ít và giao cho các viện làm. Viện thí nghiệm vật liệu xây dựng (Nay là viện khoa học công nghệ giao thông vận tải) có phòng thí nghiệm từ thời pháp, thí nghiệm bê tông, thép và gỗ. Chính viện này đã được giao biên soạn quy phạm đầu tiên (sau này đổi thành tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn Việt nam _TCN). Tôi được tham dự buổi giới thiệu 4 quy phạm về xi măng, bê tông, gỗ và thép do 4 phòng của viện biên soạn. Viện Hóa nghiên cứu puzolan Sơn Tây, xỉ lò cao Thái Nguyên tôi cũng được dự. Sau này việc biên soạn tiêu chuẩn liên quan đến xi măng bê tông được giao cho viện xây dựng của bộ xây dựng (tiền thân của viện khoa học công nghệ xây dựng bây giờ). Khi đó tiêu chuẩn nhà nước do ủy ban kiến thiết cơ bản nhà nước làm chủ quản (không phải bộ xây dựng, bộ chỉ làm công các cơ bản thôi) do bác Cát (thầy dạy tôi môn thi công ở ĐHBK) chỉ đạo và lúc đó tôi là PTSKHKT, nên thày luôn cử tôi làm phản biện số 1 các tiêu chuẩn và tất cả các buổi nghiệm thu tiêu chuẩn thầy đến dự và chỉ đạo. Sau này các tiêu chuẩn vật liệu xây dựng chủ yếu chuyển về viện vật liệu xây dựng. Bộ xây dựng thành lập hội đồng chuyên ngành VLXD với các thành viên cố định. Tôi là 1 ủy viên cố định và thường là ủy viên phản biện các đề tài. Tôi từng làm chủ tịch, phó chủ tịch và làm phản biện nhiều đề tài cấp nhà nước cấp bộ, phản biện hội nghị xét duyệt giải thưởng nhà nước và giải thưởng Loa Thành của Tổng hội xây dựng Việt Nam. Hầu hết các đề tài nghiên cứu và tiêu chuẩn có một thời tôi đều tham dự. Anh Hỷ, anh Minh không được mời bao giờ vì không ai biết họ. Anh Minh có lúc hiểu lầm và nghĩ rằng họ phải mời bộ môn rồi bộ môn cử ai đi là quyền của bộ môn. Sự việc đâu có thế, giấy mời họ ghi rõ tên người học hàm học vị, ai mà thay thế được. Tôi đi họp và tham gia công việc gì cũng với tư cách là người của trường đại học Thủy Lợi.

Công việc viết báo khoa học tổ VLXD cũng làm được nhiều. Tôi viết báo khoa học thường thức từ số 2 với đề tài gạch đất nung dùng ở quê tôi. Rồi liên tục có các bài khác viết cho báo này. Tôi viết cho tờ thông tin khoa học của ủy ban khoa học nhà nước và đặc biệt viết thường xuyên cho tạp chí thủy lợi cũng có lúc đổi tên là thủy lợi thủy điện. Khi bộ thủy lợi chuyển sang bộ nông nghiệp và PTNT, tạp chí thủy lợi có bảng tổng kết các bài viết của các tác giả, tôi là người viết nhiều nhất 28 bài, anh Hỷ và Minh và Dinh mỗi người viết 1 bài. Tôi cũng viết cho tạp chí nông nghiệp và PTNT. Một số bài viết cho tạp chí xây dựng (Bộ XD) tạp chí đại học (Bộ ĐH), tạp chí giáo dục và đào tạo (bộ GDDT), tạp chí kỹ thuật của ủy ban khoa học nhà nước (Sau là viện KHVN) tổng cộng là khoảng 80 bài, sau này khi về hưu tôi viết cho nhiều báo khác. Tổ môn cũng viết cho các báo hàng ngày, tôi viết bài “thanh niên cần học ngoại ngữ khi đang ở miền Nam, gửi thư và bài báo qua xe quân sự từ Quảng Trị ra Hà Nội đăng ở báo Tiền Phong. Ngoài ra có bài đăng ở báo Quân đội nhân dân, báo nhân dân, Hà Nội mới, Lao động. Tôi chẳng nêu số lượng bài báo đã viết vì có nhiều bài tôi viết sau khi về hưu.

Sau khi đi NCS về, bộ Đại học (cụ thể là vụ khoa học) tổ chức các tiểu ban bồi dưỡng và tyển chọn NCS đi học nước ngoài. Tôi được cử làm trưởng tiểu ban VLXD. Hằng năm các bộ, các trường gửi danh sách thí sinh vật liệu dự kiến đi NCS ở các nước XHCN cho bộ Đại học. Vụ khoa học giữ lại người cho tôi. Tôi tổ chức 1 hội đồng và làm một số việc. Tôi phụ đạo 2 buổi cho NCS, ra đề thi VLXD tổ chức chấm thi, gửi điểm lên vụ và tổ chức cho từng thí sinh bảo vệ đề cương nghiên cứu, góp ý để NCS chỉnh sửa và chấp nhận các đề cương đó. Danh sách hội đồng tôi ấn định số lượng để đủ mỗi người hướng dẫn 1 đề cương. Có 1 lần tôi mời anh Hỷ tham gia hội đồng. Thí sinh thì có nhiều người từ các trường đại học, Viện NCKH, cục công binh và học viện kỹ thuật quân sự. Các đề tài đều nằm trong phạm vi bê tông xi măng. Ngoài môn VLXD thí sinh còn phải tham gia thi môn toán và một số môn cơ sở khác và số lượng đó là có hạn theo chỉ tiêu đã định và lấy người có tổng điểm cao.

Vụ đại học ở bộ đại học có chủ trương thành lập các ban thư ký từng môn học của các trường có quan hệ với nhau. Anh Phương giáo viên địa chất của trường lập ban thư ký môn địa chất công trình đầu tiên. Tôi học kinh nghiệm của anh Phương cũng thành lập ban thư ký môn VLXD. Ban phụ trách gồm 3 người, tôi gặp các tổ trưởng của các tổ VLXD các trường ĐHTL, ĐHXD, ĐHGTVT, ĐHKT. Tôi là người tổ chức, nhưng để anh Phạm Văn Trình, PTS về VLXD học ở Rumani là hiệu trưởng trường ĐHKT làm trưởng ban, còn tôi chỉ là phó ban thường trực giải quyết mọi việc, nhưng anh Trình đăng cai tổ chức các hội nghị và giải quyết kinh phí, chứ tôi làm sao được việc này. Tôi cũng không báo cáo với trường ĐHTL về việc này, vì không liên quan và sẽ chẳng giúp đỡ được gì. Tôi phải đi từng trường tìm hiểu chương trình giảng dạy, giáo trình, phòng thí nghiệm, sĩ số giáo viên, các lớp học VLXD. Sau đó viết một quyển giáo trình riêng có cả vật liệu cho nội thất, không chỉ là vật liệu xây dựng như các trường khác. Sau đó có tổ chức 1 hội nghị mời tất cả giáo viên các trường tới dự. Có cả phó vụ trưởng vụ đại học, bộ đại học. Tôi đọc báo cáo, anh Trình chủ trì. Buổi trưa trường ĐHKT đãi anh chị em một bát phở sau khi kết thúc hội nghị. Trước đây ở các trường những hội nghị lớn đều có ăn trưa và thường ăn phở, mỗi người 1 bát rất tiện. Về sau tôi đi bảo vệ luận án tiến sĩ về thì ban cũng ngừng hoạt động. Tôi không sới lại nữa. Dù sao qua hội nghị đó các tổ môn VLXD ở trường cũng hiểu nhau hơn.

Tham Gia giảng dạy sau đại học và đào tạo NCS trong nước.

Thời gian anh Mẫn làm trưởng phòng khoa học, thỉnh thoảng cũng tổ chức các lớp bồi dưỡng sau đại học đều mời bộ môn VLXD tham gia. Tôi có viết một số chuyên đề như vấn đề chống thấm, thiết kế thành phần bê tông… Khoảng năm 1978 Hoàng Phủ Lan giáo viên VLXD trường ĐHXD bảo vệ luận án PTS đầu tiên trong nước có mời tôi làm phản biện 1. Năm 1981 Nguyễn Văn Thịnh sinh viên VLXD ở Liên Xô cùng thời với tôi làm PTS ở trường xây dưng Matxcova về dạy ở ĐHKT. Cậu ta đến gặp tôi và khoe vừa nghiên cứu kết quả xử lý gỗ bồ đề làm dăm gỗ cho tấm xi măng dăm gỗ ở nhà máy Durisol Việt Trì do Thụy Điển giúp đỡ. Trong gỗ này có độc tố liên kết với xi măng không tốt. Phải khử độc tố bằng cách ngâm trong nước sunfit natri. Kết quả này đã được nhà máy áp dụng. Nghe qua câu chuyện và đã có kinh nghiệm phản biện đề tài của anh Lam, tôi bảo Thịnh có muốn làm luận án PTS trong nước không thì tôi giúp đỡ. Thịnh rất mừng và nhờ tôi giúp đỡ. Tôi có 3 kế hoạch cụ thể: bố trí cho Thịnh bảo vệ ở đại học xây dựng, tôi đề nghị với anh Quý khi đó là hiệu phó cũng là PTS về vật liệu xây dựng ủng hộ và tham gia giáo viên hướng dẫn. Tôi nói với anh Trình PTS LXD là hiệu trưởng ĐHKT cho phép Thịnh có thời gian chuẩn bị luận án và cho kinh phí để hoàn thành luận án. Tôi là người hướng dẫn chính đọc, bổ sung, chỉnh sửa luận án của Thịnh, nhưng để tên anh Trình đầu tiên trong tập thể hướng dẫn. Buổi bảo vệ được tổ chức ở trường ĐHKT để trường tổ chức chiêu đãi hội đồng và người tham dự dùng kinh phí của ĐHKT. Hàng năm nhà nước tổ chức triểm lãm kinh tế quốc dân ở nhà triển lãm Giảng Võ (nay chuyển đến Mỹ Đình). Có nhiều sản phẩm VLXD được triển lãm. Ủy ban khoa học nhà nước lập hội đồng đánh giá các sản phẩm trao tặng huy chương (vàng, bạc, đồng) cho các sản phẩm chất lượng và hội đồng cũng đi kiểm tra một số nhà máy để cấp dấu chất lượng. Tôi thường là chủ tịch hội đồng đi làm các công việc này.  Có một lần rất đặc biệt là sau khi tôi tốt nghiệp tiến sĩ về thì được cử làm chủ tịch hội đồng xét duyệt các sản phẩm VLXD ở triển lãm năm 1985, trong đó có một loại phụ gia đa năng cho bê tông (tăng độ dẻo, cường độ, độ chống thấm) của anh Nguyễn Ngọc Sơn, trưởng xưởng thí nghiệm của tổng công ty xây dựng công trình giao thông số 1. Sản phẩm này đã được ứng dụng ở cầu Chương Dương là cầu lớn đầu tiên do Việt nam thiết kế và xây dựng. Anh Sơn phải báo cáo trước hội đồng về loại phụ gia này để hội đồng xét duyệt huy chương. Tôi hỏi anh về nguyên liệu để sản xuất phụ gia. Anh ta cứ nói ấp úng và tự thú nhận là không thể báo cáo rõ được vì đấy là miếng cơm manh áo của xưởng. Tôi kết luận: xét về kết quả nghiên cứu và có ứng dụng vào công trình lớn thì sản phẩm này có thể nhận huy chương vàng, nhưng nội dung báo cáo sơ sài không rõ nguồn gốc nên chỉ tặng cho huy chương bạc thôi. Anh Sơn đồng ý và có mời tôi hôm nào đó đến thẳng cơ quan sẽ trình bày thêm. Mấy hôm sau tôi đến cơ quan của anh ở số 3 phố Cát Linh. Anh cho tôi xem các giấy thí nghiệm của đại học xây dựng và của viện KHCN xây dựng. Kết quả đều tốt và nói phụ gia này anh học tập được của Cu ba khi đi thực tập tốt nghiệp ở nhà máy bê tông của nước bạn. Tôi xem xong, bảo anh có muốn làm luận án PTS không. Anh ngạc nhiên và nói không bao giờ dám nghĩ đến chuyện này. Nhưng nếu thầy giúp đỡ hướng dẫn thì tốt quá. Tôi đã có kinh nghiệm phản biện luận án của Hoàng Phi Lan và hướng dẫn luận án của Nguyễn Văn Thịnh nên nhận lời giúp đỡ anh Sơn để nâng báo cáo nghiên cứu này chỉ vài trang thành luận án tiến sĩ. Tôi khá vất vả đầu tư nhiều thời gian cho luận án của Sơn hơn của Thịnh. Phải tìm tài liệu tham khảo hướng dẫn viết phần tổng quan, phân chia các chương mục, phụ đạo cho Sơn chương bê tông trong giáo trình VLXD của ĐHXD xuất bản năm 1977... Tập dượt cho Sơn thi môn VLXD và báo cáo luận án. Tôi trực tiếp gặp phòng sau đại học, hiệu phó Quý (VLXD) và hiệu trưởng Đăng cho Sơn được bảo vệ luận án của ĐHXD.  Khi đó chỉ có ĐHXD được phép đào tạo PST về VLXD thôi. Các anh ấy nói: tôi giới thiệu thì các anh ấy tin tưởng và đồng ý ngay vì tất cả đều là bạn tôi. Có một chi tiết khá thú vị về phụ gia của Sơn. Trước khi đưa triển lãm thì tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 thi công cầu Chương Dương phía Bắc. Khi bộ xuống kiểm tra trong đó có vụ trưởng vụ kỹ thuật của bộ là anh Sơn (lớn) kỹ sư học ở Trung Quốc. Ban chỉ huy công trường thuộc tổng 1 khoe là đã tự sản xuất được phụ gia và đưa vào bê tông xây dựng. Anh Sơn (lớn) bất bình hỏi: đó là phụ gia gì? Ai cho phép đưa vào bê tông, nhỡ ảnh hưởng đến chất lượng bê tông thì sao, đây là công trình lớn rất quan trọng. Vụ yêu cầu ngày mai đại diện tổng công ty và người chế tạo phụ gia phải lên vụ báo cáo. Nếu không sẽ bị xử lý. Hôm sau giám đốc TCT và anh Sơn (con) lên vụ. Anh Sơn báo cáo loại phụ gia này đã được dùng ở Cuba ở dạng lỏng, nay chỉ pha với puzolan Sơn Tây để thành dạng bột để vận chuyển và sử dụng. Phụ gia đã được kiểm chứng ở trường đại học xây dựng và viện KH xây dựng là 2 cơ quan nghiên cứu cao nhất về vật liệu ở nước ta nên mới dám sử dụng. Trong quá trình sử dụng có lấy mẫu kiểm tra thấy chất lượng tốt anh Sơn (con) đưa trình anh Sơn (lớn) các kết quả thí nghiệm thì nhất trí cho phép sử dụng và coi đây là một phụ gia bê tông mới của ngành sẽ đưa ra triểm lãm kinh tế quốc dân. Anh Sơn (con) lúc đầu sợ lắm. Nhưng đến lúc này thì mừng rơn. Thực tế phụ gia gồm rỉ đường, CaCl2 để khắc phục tác dụng làm chậm đông cứng của rỉ đường và trộn với bột puzolan Sơn tây để thành phụ gia dạng bột, đóng gói thành các bao 10kg- 20kg để dễ chuyên chở bằng xe đạp. Tôi tổ chức nhóm hướng dẫn luận án gồm 3 người: Tôi, anh Đặng Duy Thùy trưởng phòng vật liệu ở viện kỹ thuật giao thông vận tải. Anh Thùy là PTS về VLXD, những cũng là cử nhân hóa. Như vậy rất thuận lợi: một là anh Thùy ở ngành giao thông vận tải, hai là phụ gia bê tông là sản phẩm hóa học. Tôi mời thêm anh Trí, tổ trưởng tổ VLXD trường ĐHXD và anh Sơn bảo vệ ở ĐHXD. Như vậy là kín kẽ. Tôi sẽ đảm nhiệm chủ yếu giúp đỡ anh Sơn hoàn thành luận án. Các anh kia chỉ trên danh nghĩa thôi, các anh ấy cũng là học trò tôi khi tôi làm trưởng tiểu ban tuyển cho NCS đi học nước ngoài. Lúc đó đã có phụ gia shika vào VN và phụ gia nào học cũng giới thiệu là không có clo. Tôi nghĩ anh Sơn pha nhiều CaCl2 qua không phù hợp với tiêu chuẩn nước ngoài. Tôi nhờ anh Mẫn trườngg ta phân tích hàm lượng clo trong phụ gia và may mắn là hàm lượng clo nằm trong phạm vi cho phép theo tiêu chuẩn mỹ. Toi lấy xác nhận của tổ hóa có dấu của trương. Phần anh Sơn phải lo 3 kỳ thi. Thi môn triết, tiếng anh và VLXD. Công việc hoàn thành chỉ trong 8 tháng. Trước khi bảo vệ anh Sơn rất lo trong hội đồng toàn người lạ cả và có đề nghị tôi rút khỏi tổ hướng dẫn để tham gia hội đồng cùng với bạn bè quen biết và tôi sẽ phát biểu về nguồn gốc đề tài luận án này và ứng phụ gia ở cầu Chương Dương. Tôi nhất trí. Như vậy tập thể hướng dẫn chỉ còn anh Trí và anh Thùy thôi. Hội đồng do anh Kiểm là chủ tịch (anh Kiểm là viện trưởng viện KH xây dựng) anh Quý (ĐHXD) và anh Đích (trưởng phòng VLXD của viện) làm phản biện tôi là ủy iên. Hội đồng họp ở khách sạn Đội Cấn, nơi vợ anh Sơn làm việc để sau đó mở tiệc chiêu đãi. Sau khi các phản biện đọc nhận xét tôi phát biểu về nguồn gốc luận án này xuất phát từ sản phẩm triển lãm, được dùng ở cầu Chương Dương lần đầu tiên và đã được một số cơ quan thí nghiệm đánh giá tốt. Tất nhiên là tôi bỏ qua chuyện chính mình đã giúp anh Sơn hoàn thành lận án. Sau đó có thêm một vài ý kiến nữa là đi đến bỏ phiếu công nhận luận án phó tiến sĩ KHKT của Nguyễn Ngọc Sơn. Như vậy là một anh phiên dịch tiếp Tây Ban Nha ở Sơn Tây – Xuân Mai do Cuba giúp rồi làm trưởng xưởng phòng thí nghiệm Sơn đã trở thành PTS KHKT thứ 4 bảo vệ trong nước. Nhờ học vị này mà cơ quan của Sơn phát triển thành công ty và làm ăn thuận lợi hơn. Tôi làm việc ở bộ môn đến tuổi quá 62. Sơn đến gặp tôi và đề nghị nếu công tác ở trường không có gì đặc biệt thì chuyển sang chỗ Sơn làm việc và trước mắt là sang làm chuyên gia ở Lào cho 2 công ty, công ty 22 của tổng 1 và công ty Việt Lào của tổng 8 nằm trong liên doanh CEI/8 chuẩn bị làm đường ở thủ đô Viêng Chăn, chủ yếu là giúp phòng thí nghiệm do công ty của anh Sơn trang bị. Ở chỗ anh Sơn không ai đủ trình độ làm việc này, vì ngoài yêu cầu về chuyên môn uy tín khoa học kỹ thuật đặc biệt là phải thạo tiếng Anh, vì phải dùng tiếng Anh để làm việc với tư vấn và bộ giao thông xây dựng của Lào và công việc rất cấp thiết cần giải quyết ngay. Tôi suy nghĩ một ngày và hôm sau trả lời đồng ý với yêu cầu của Sơn. Như vậy là tôi làm việc ở ĐH Thủy Lợi từ năm 1959 và kết thúc vào giữa năm 1997 và chính thức nghỉ hưu. Đáng lẽ sẽ nghỉ hưu vào cuối năm 1999, nhưng sau đó tôi vẫn tiếp tục công tác cho đến năm 2004 ở công ty tư vấn thí nghiệm công trình giao thông I của anh Sơn, tôi nghỉ việc ở tổ môn, nên cũng không cần viết gì thêm về công việc của tôi tiếp tục làm trong bản hồi ký này.

   0   Tổng số:
  Gửi ý kiến phản hồi
907